11 tháng 4, 2009

ĐÓ MỚI LÀ YÊU

(Khi bỏ qua tất cả cảm xúc, niềm si mê, sự lãng mạn mà ta vẫn thấy còn yêu thì đó chính là tình yêu.)

Phải chăng là khi tim bạn đập nhanh, lòng bạn tay bạn ướt đẫm mồ hôi, giọng nói bạn phải chạy theo mới có thể bắt kịp với nhịp đập trái tim nơi lồng ngực?
Đó chưa phải là yêu… Chỉ là THÍCH.
.
Phải chăng là bạn không thể giữ cho mắt và tay bạn rời khỏi họ?
Đó chưa phải là yêu… Chỉ là SỰ THÈM MUỐN.

Phải chăng là bạn luôn hãnh diện và háo hức muốn khoe họ với mọi người vì họ rất tuyệt?
Đó chưa phải là yêu… Chỉ là bạn cảm thấy MAY MẮN.

Phải chăng là bạn cần họ vì bạn biết họ đang có mặt bên cạnh bạn?
Đó chưa phải là yêu… Bạn cảm thấy như thế, bởi vì bạn đang CÔ ĐƠN.

Phải chăng là bạn ở bên cạnh họ vì đó là điều họ muốn?
Đó chưa phải là tình yêu… Chỉ là LÒNG TRUNG THÀNH.

Phải chăng là bạn ở bên họ vì vẻ bề ngòai của họ làm cho tim bạn đập nhanh hơn?
Đó chưa phải là yêu… Chỉ là SỰ SAY MÊ

Phải chăng là bạn tha thứ mọi lỗi lầm của họ vì bạn quan tâm họ?
Đó không phải là yêu… Đó là TÌNH BẠN.

Phải chăng là khi bạn nói với họ rằng họ là người duy nhất bạn nghĩ tới?
Bạn không yêu họ rồi vì… bạn đã NÓI DỐI.

Phải chăng là bạn cho họ những thứ bạn thích vì lợi ích của họ?
Đó chưa phải là tình yêu… Chỉ là LÒNG THẢO.


Thế nhưng…
Khi tim bạn vỡ vụn và đau nhói những lúc họ buồn...
Đó mới là YÊU.

Khi những người khác dù có thu hút bạn, nhưng bạn vẫn ở lại bên cạnh họ một cách không hối hận…
Đó mới là YÊU.

Bạn chấp nhận lỗi lầm của họ vì bạn biết đó là một phần tính cách của họ…
Đó mới là YÊU.

Khi bạn khóc vì những nỗi đau của họ, dù là nhiều lúc đối với những nỗi đau đó, họ còn cứng cỏi hơn cả bạn nữa…
Đó mới là YÊU.

Khi bạn cảm thấy như ánh mắt của họ nhìn thấu tim bạn, chạm vào tâm hồn bạn một cách sâu sắc đến đau lòng…
Đó mới là YÊU.

Phải chăng bạn bằng lòng đưa trái tim, cuộc đời, sự sống cho họ?
Nếu có thì đó là YÊU.

(Theo Internet)



20 tháng 3, 2009

CŨNG ĐÀNH


Biết rằng đời chẳng như mơ
Biết rằng chẳng thể mong chờ trăm năm
Cũng đành nhớ trộm thương thầm
Gối đơn lẻ chiếc, dấu nằm lẻ đôi
Phận người-phận cỏ chơi vơi
Nỗi niềm vò xé rối bời trong ta
Đò tình lỡ chuyến thiết tha
Cũng đành ôm chút lụa là dư hương
Dìu nhau qua những yêu thương
Dìu chi qua chốn đoạn trường, Người ơi!
Đau này xin giữ riêng tôi
Sướng vui cầu chúc cho Người trăm năm.

17 tháng 3, 2009

TÌNH YÊU


Đã một năm kể từ khi Susan bị mù vì một chẩn đoán sai của bác sĩ, cô đột ngột bị ném vào thế giới của bóng tối, tức giận, tuyệt vọng và mặc cảm. Và tất cả những gì đủ để cô còn bám víu vào cuộc sống là vì bạn trai cô - Mark. Mark là một sĩ quan quân đội. Anh rất yêu Susan, đã nhìn thấy cô tuyệt vọng đến mức nào, anh quyết định giúp Susan lấy lại được sức mạnh và tự lập... Đầu tiên, anh tìm cho cô một công việc dành cho người khiếm thị. Nhưng làm sao cô đến chỗ làm việc được đây? Mark đề nghị đưa cô đến chỗ làm hằng ngày, dù hai người ở hai đầu thành phố. Tuy nhiên sau đó, Mark nhận ra rằng đó không phải là giải pháp. Susan sẽ phải tự mình đi xe buýt, tự đến chỗ làm - đó mới là cách đúng. Nhưng Susan rất nhạy cảm, cô ấy sẽ phản ứng thế nào?

Đúng như với Mark nghĩ, Susan hết sức hốt hoảng khi nghe tới việc mình phải tự đi xe buýt. “Em bị mù mà”- Cô phản ứng bằng giọng cay đắng -”Làm sao em biết em sẽ đi đến đâu? Anh bỏ rơi em phải không?” Mark rất đau lòng khi nghe những lời đó, nhưng anh biết phải làm gì. Anh hứa sẽ cùng cô đi xe buýt mỗi sáng và mỗi chiều, bao lâu cũng được, cho đến bao giờ cô quen với việc đi xe buýt.

Trong hai tuần liền, Mark trong bộ đồng phục quân đội, đi theo Susan đến nơi làm việc. Anh dạy cô làm sao để sử dụng các giác quan khác, nhất là thính giác, để biết mình đang ở đâu và làm sao để quen với môi trường mới. Anh cũng giúp cô làm quen với những người lái xe buýt, nhờ họ để mắt đến cô, giữ cho cô một chỗ ngồi hằng ngày...
Cuối cùng, Susan nói cô có thể tự đi được. Sáng thứ hai, lần đầu tiên, họ đi theo hai hướng khác nhau.

Thứ ba, thứ tư, thứ năm... Mỗi ngày Susan đều tự đi xe buýt đến chỗ làm và đón xe buýt đi về. Susan cảm thất rất vui vì cô vẫn tự mình làm được mọi việc. Thứ hai của năm tuần sau đó, Susan đón xe buýt đi làm như mọi khi. Khi cô đang đóng tiền mua vé tháng cho người lái xe, bỗng anh lái xe nói: “Tôi thật ghen tỵ với cô đấy nhé!”. Susan không biết có phải anh ta nói với mình không. Nhưng nói cho cùng, có ai mà lại đi ghen với một cô gái mù đang đấu tranh để mà sống chứ? Cô hỏi:
- Sao anh lại ghen với tôi được?
- Vì cô được quan tâm và bảo vệ. Cô quả là hạnh phúc!
- Tôi được bảo vệ? Anh nói thế tức là sao?
- Suốt mấy tuần qua, sáng nào tôi cũng thấy một chàng trai mặc đồng phục quân đội lái xe theo, rồi đứng bên kia đường nhìn cô xuống xe. Anh ta nhìn theo đến khi cô đi qua đường an toàn, đi vào nơi cô làm việc và vẫy tay chào cô rồi mới lái xe đi. Cô quả là một người may mắn!
Susan khóc. Vì cô không nhìn thấy Mark nhưng cô cảm thấy Mark ở bên cạnh. Cô là người may mắn vì cô đã nhận được một món quà mà cô không cần phải nhìn thấy tận mắt để tin: món quà của tình yêu có thể mang ánh sáng đến những nơi nhiều bóng tối nhất.

10 tháng 3, 2009

NGÀY XƯA



Em mười sáu tuổi, tôi mười sáu
Ta làm hàng xóm đã lâu rồi
Nhà em có trồng giàn mát mát*
Em thường hái trái ném sang tôi

Em bảo:Ăn đi! Thơm ngọt lắm!
Tôi cười ngượng nghiu ghé răng vào
Mát mát còn xanh, chua như giấm
Nhìn tôi nhăn mặt em... lêu lêu!

Mỗi lúc gặp nhau tôi gọi: "Chị"
Em bĩu môi cười bảo:"Chào em!"
Tôi dại khờ, em càng khờ dại
Mát mát còn xanh vẫn cứ thèm!

Tôi tạc hình em trên phấn viết
Hai lúm đồng tiền khoét nhỏ, to
Em lắc đầu chê: Trông xấu quá
Em véo tôi đau đến... tận giờ!

Bị tôi trêu mãi em ngúng nguẩy
Em bảo giận tôi, mai chẳng sang
Mày chau, mũi hếch, môi cong cớn
Thế nhưng con mắt thì... liếc ngang

Chỉ vu vơ cũng đủ vấn vương
Khi giận, trông em thật dễ thương
Em bảo dễ thương? Thương không dễ!
Cứ thử đi mới biết ...đoạn trường!

Đôi mắt em như cánh sao rơi
Hồn tôi đã lạc bến mê rồi
Thao thức đêm dài tôi dệt mộng
Hai đứa bên nhau đến trọn đời...

Thế mà lâu quá bặt tin nhau
Tôi như đất hạn ngóng mưa rào
Chẳng giận, chẳng hờn mà xa cách
Tôi biết tình em chẳng dat dào

Ôi! Giận mà thương, thương mà giận
Má lúm đồng tiền thuở xưa ơi !
Chẳng biết bây giờ em có nhớ
Chút tình thơ dại đã xa xôi?

Sài Gòn, Trung Tâm CTCH THĐ

(*mát mát:tên gọi khác của chanh dây)

9 tháng 3, 2009

Một ngày bỗng ước mình là cỏ


Em lên thăm anh, niềm vui chưa kịp thỏa thì chuyện buồn đã ập tới. Ta đưa nhau lên đồi, đưa nhau vào ngôi nhà thờ nhỏ tìm nơi nghỉ chân mà ngỡ như hai kẻ trốn chạy đang tìm chốn nương thân. Ngồi bên nhau trong góc giáo đường em dựa vai anh ngủ ngoan như một cô mèo nhỏ sau một chuyến đi dài mệt nhọc. Anh cố nén tiếng thở dài, nhìn lên thánh giá thầm nguyện: "Chúa ơi, chúng con chỉ là hai kẻ ngoại đạo lạc bước đến đây mong tìm chút bình yên trước những bão giông của cuộc đời. Xin Chúa lòng lành hãy ban cho con niềm tin và sức mạnh để vượt qua thử thách này". Rồi lặng yên lắng nghe hơi thở của em, cảm nhận được sự tin cậy vô điều kiện em dành cho anh, cả linh hồn anh trào dâng một nỗi đau vô bờ bến, một nỗi đau không thốt được nên lời.
Em ơi, hãy ngủ ngoan đi nhé! Ngủ cho quên những ngang trái của cuộc đời, ngủ cho nguôi nỗi ngậm ngùi bởi lòng người hoang lạnh, ngủ cho khuây đi nỗi đau này. Ngủ đi em, trong giấc mộng của em sẽ không có những lời cay đắng làm em buồn tủi, ở đó em sẽ cười rạng rỡ và đôi mắt sẽ ngời lên vì hạnh phúc như khi em đón nhận những đóa hồng anh trao. Ngủ ngoan nhé! Cô bé tội nghiệp của anh ...
Em biết không, anh cảm thấy thật sự mệt mỏi sau những gì đã xảy ra. Ngoài kia cỏ trải mượt trên triền đồi nghiêng nghiêng mình đón nắng. Anh chợt muốn nằm lăn ra trên cỏ. Ước gì bây giờ anh cũng là một trong những ngọn cỏ mềm bé nhỏ khép đôi cánh lá nằm kia, ngủ một giấc thật dài, không oán trách, không giận hờn, không buồn tủi. Ai bảo rằng cỏ dại? Cỏ ơi! Chắc chỉ mình cỏ hiểu rằng vì sao có một ngày ta bỗng ước mình là cỏ?...
CỎ HỒNG-Phạm Duy.
Rước em lên đồi, cỏ hoang ngập lối
Rước em lên đồi, hẹn với bình minh
Ðôi chân xinh xinh như tình thôi khép nép
Hãy vứt chiếc dép, bước đi ôm cỏ mềm
Ðồi êm êm, cỏ im im, ngủ yên yên, mộng rất hiền
Giọt sương đêm còn trinh nguyên
Nằm mê man chờ nắng sớm lên, rước em lên đồi tiên
Đồi nghiêng nghiêng, cỏ lóng lánh,
Rồi rung rinh, bừng thoát giấc lành
Trời mông mênh, đồi thênh thênh
Cỏ chênh vênh chờ đôi nhân tình
Rước em lên đồi xanh ! Rước em lên đồi trinh.
Mời em lên núi cao thanh bình
Cỏ non phơn phớt ôm chân mình
Mời em rũ áo nơi đô thành
Cùng ta lên núi cao thanh thanh
Em ơi ! Ðây con đồi dài, như bao nhiêu mộng đời
Nghiêng nghiêng nghe mặt trời yêu đương.

Níu em trên đồi, cỏ thơm mùi sữa
Níu em yêu ngồi trên bãi cỏ non
Giương đôi tay ôm thân tròn ơn mưa móc
Hãy xoã mái tóc, rũ trên vai anh mòn
Ðồi quen quen, cỏ ngoan ngoan, tưởng mơn man làn tóc rối mềm
Rồi nghe thêm lời van xin
Từ trong tim hoặc dưới suối tiên, ngã êm trên cỏ hoang
Trời trong em, đồi choáng váng, rồi run lên cùng gió bốn miền.
Cỏ không tên nằm thênh thang, rồi vươn lên vì ta yêu nàng
Hỡi ôi con đồi ngoan! Hỡi ôi cỏ hồng hoang!
Cỏ xanh đổi sắc theo nhân tình
Mặt trời cũng đang soi tia lành
Cỏ hoang xao xuyến trên ngọn ngành
Ðỏ như trong giấc mơ lung linh
Em ngoan như tình nồng, em bao la mịt mùng
Em thơm như cỏ hồng em ơi!

ĐÀ LẠT - Đêm không ngủ
Ca khúc "Cỏ hồng" của nhạc sĩ Phạm Duy

3 tháng 3, 2009

Gửi người trăm năm sau

 Gửi người trăm năm sau

Chỉ có em mới biết
Vì sao anh xót xa
Chỉ có em mới hiểu
Tâm hồn anh thiết tha

Vì sao e không nói
Chỉ một lời yêu thương?
Để hồn anh giông bão
Lay lắt những đêm trường…

Em còn mãi xa xôi
Anh còn mãi ngậm ngùi
Tình yêu như lá mỏng
Bay đi không một lời

Anh về qua phố núi
Mắt buồn trong mưa thưa
Sầu lên từ vạn nẻo
Đẫm hồn anh như mưa…

Tiếng chuông chiều chợt vọng
Bên dốc cao nhà thờ
Anh như rồi giấc mộng
Lạc đường đứng ngẩn ngơ…

Từ ly thành kẻ lạ
Hoa trái cũng phù vân
Lòng chợt nghe thiền động
Trên từng nhịp bước chân…

Chỉ có e mới biết
Vì sao ta xa nhau
Mùa xuân này hiu hắt
Xác thân này hư hao

Ôi, tình như nắng ấm
Giữa đời ta hoang vu
Nhưng tình đi không hết
Để lòng ta âm u…

Em về nơi xa ấy
Dẫu còn nhớ hay quên
Ru giùm ta đi nhé
Một nỗi buồn không tên

Biết bao nhiêu hoài vọng
Chôn vùi giữa tình đau
Đong đầy chưa nỗi nhớ
Gửi người trăm năm sau.

(Xuân Đinh Hợi 2007)









28 tháng 2, 2009

Truyện ngắn hay: CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG -O'Henry



Trong một quận nhỏ phia đông Washington, các con đường chạy ngoằn nghoèo một cách điên dại, cắt quãng thành những dải nhỏ gọi là “vùng”.

Những “vùng” này lọt thỏm trong những góc và đường cong lạ kì. Một con đương cắt ngang với chính nó một, hai lần. Một hoạ sĩ đã có lần khám phá là con đường có thể có giá. Ví dụ như khi một nhân viên thu ngân cầm hoá đơn của mầu vẽ, giấy và vải, sau khi đi dọc theo đường này bỗng thấy mình đã đi vòng lại chỗ cũ mà không hề thu được một xu nào cả!.

Thế nên đám hoạ sĩ chẳng bao lâu đã kéo đến phường Greenwich, săn lùng phòng cho thuê có cửa sổ thông ra hướng bắc, góc mái kiểu thế kỷ 18, gác lửng kiểu Hà Lan, và giá thuê lại rẻ. Sau đấy họ mang vào vài lọ hợp kim thiếc, một hai cái chảo nấu ăn dã chTrong một quận nhỏ phia đông Washington, các con đường chạy ngoằn nghoèo một cách điên dại, cắt quãng thành những dải nhỏ gọi là “vùng”.

Những “vùng” này lọt thỏm trong những góc và đường cong lạ kì. Một con đương cắt ngang với chính nó một, hai lần. Một hoạ sĩ đã có lần khám phá là con đường có thể có giá. Ví dụ như khi một nhân viên thu ngân cầm hoá đơn của mầu vẽ, giấy và vải, sau khi đi dọc theo đường này bỗng thấy mình đã đi vòng lại chỗ cũ mà không hề thu được một xu nào cả!iến, và thế là một “quần cư” thành hình.

Hai cô Sue và Johnsy cùng thuê chung một căn phòng đơn giản ở tầng trên cùng của một toà nhà ba tầng lụp xụp. “Johnsy” thực ra là tên thân mật của California. Họ đã gặp nhau tại một hiệu ăn trên đường Số Tám, và khám phá ra là họ có những sở thích tương đồng về nghệ thuật, rau diếp xoắn trộn dấm, và thời trang với tay áo giám mục. Thế là họ cùng thuê chung một căn phòng.Đấy là vào Tháng 5 . Vào tháng 11, có một kẻ ngoại nhập mang theo giá lạnh nhưng vô hình, mà các bác sĩ gọi là Viêm Phổi, rình rập trong “quần cư”, móng vuốt giá băng quệt vào đây đó. Tên giặc đã ngang nhiên hoành hành khu phía đông, hạ gục nhiều nạn nhân, nhưng hắn chỉ mới đặt chân chầm chậm qua các lối ngõ như bàn cờ của mấy “vùng” nhỏ hẹp phủ đầy rêu.

Bạn sẽ không xem Thần Viêm Phổi như một quân tử già đầy hào hiệp. Người con gái nhỏ vốn đã mất máu vì những trận gió ở Califỏnia thì lẽ ra không đáng cho một kẻ bất tài già nua bận tâm đến. Nhưng hắn đã tấn công Johnsy. Thế là cô nằm bẹp, không mấy cử động, trên chiếc giường sắt, xuyên qua khung cửa sổ kiểu Hà Lan nhìn ra bức tường trơ trụi của căn nhà gạch kế bên.

Một buổi sáng, vị bác sĩ đầy bận rộn mời Sue ra hành lang. Ông đang vẩy cái nhiệt kế thăm bệnh để mực thuỷ ngân trong đó hạ xuống.
- Cơ may khởi bệnh của cô ấy áng chừng chỉ một phần mười. Và cơ may này là tuỳ vào việc cô ấy có ý chí muốn sống hay không. Với cách con bệnh chỉ ngóng chờ công ty mai táng đến thì sách thuốc nào cũng vô dụng. Cô bạn nhỏ của cô đã bị ám ảnh là cô ấy sẽ không qua khỏi. Cô ấy có ý định gì không?

- Chị ấy... chị ấy muốn có ngày nào đó vẽ tranh phong cảnh vịnh Naples.
- Vẽ tranh à? Thật là điên rồ! Cô ấy có bận tâm nặng nề về việc gì không, chẳng hạn về một người đàn ông nào đó?

Cô Sue khịt mũi:
- Một người đàn ông à? Một người đàn ông thì có thể... mà không, bác sĩ ạ, không có chuyện như thế.

Vị bác sĩ nói:
- Thế thì là do cô ấy quá yếu rồi. Tôi sẽ cố làm mọi cách mà khoa học cho phép. Nhưng mỗi khi con bệnh của tôi bắt đầu nhẩm tính số lượng xe trong chuyến đưa đám của họ thì xem như hiệu lực của thuốc men chỉ còn một nửa. Nếu cô có cách khiến cho cô ấy hỏi han cô về thời trang mua đông thì tôi có thể đoán chắc cơ may là một phần năm, thay vì là một phần mười.
Sau khi vị bác sĩ đi khỏi, Sue đi vào phòng vẽ và khóc cho đến khi cái khăn giấy Nhật tơi tả thành bột giấy. Rồi cô đường bệ đi vào phòng của Johnsy với cái giá vẽ, miệng huýt sáo một điệu dân ca Mỹ rộn ràng.

Johnsy vẫn nằm bẹp, xem chừng không động đậy chút nào dưới tấm vải giường, mặt hướng về cái cửa sổ. Sue ngưng huýt sáo, nghĩ là bạn mình đang ngủ. Cô sắp xếp giá vẽ và bắt đầu dùng viết và mực để vẽ hình minh hoạ cho một truyện để đăng trong một tạp chí. Trong khi các hoạ sĩ trẻ tuổi phải dọn đường cho Hội Hoạ bằng cách vẽ tranh cho truyện ấy để dọn đường cho Văn Chương. Khi Sue đang phác hoạ cái quần bảnh bao và gọng kinh một tròng của một anh hùng (một tay cao bồi bang Idaho), cô nghe một tiếng nho nhỏ, lặp lại vài lần.

Cô đi vội đến bên mép giường. Johnsy đang mở mắt, nhìn ra cửa sổ, và đang đếm, đếm ngược: “mười hai”, và ít lâu sau: “mười một”, và sau đấy “mười”, rồi “chín”, rồi “tám” và “bảy” gần như liền nhau.

Sue nhìn chăm chú bên ngoài cửa sổ. Có gì ở ngoài đấy đâu mà đếm? Chỉ có một khoảng sân trống buồn nản, và bức tường trơ trụi của một căn nhà gạch xa hơn chừng mười thước. Một dây thường xuân thật già cỗi, gốc vặn vẹo mục nát, leo đến giữa bức tường gạch. Ngọn gió thu lạnh đã làm rơi rụng đám lá, phơi bầy các nhánh gần như trơ trụi bám vào mấy mảng gạch vụn vỡ. Sue hỏi?
- Cái gì vậy hở bồ?

Johnsy nói, gần như thì thầm:
- Sáu. Bây giờ rơi nhanh quá. Ba ngày trước còn gần cả trăm, đếm muốn nhức đầu. Nhưng giờ thì dễ rồi. Thêm chiếc nữa. Giờ chỉ còn lại năm.
- Năm cái gì, noi cho Sue của bồ nghe nào!
- Năm chiếc lá. Trên cây thường Xuân. Khi chiếc lá cuối cùng rụng thì mình cũng sẽ ra đi. Minh đã biết như thế ba ngày nay rồi. Bác sĩ không nói cho bạn biết à. Sue càu nhàu, với giọng khinh miệt cao quý.

- Ô hay! Minh chưa bao giờ nghe có chuyện điên khùng như vậy. Mấy cái lá thường Xuân thì có liên hệ gì đến việc bồ khỏi bệnh đâu nào? Và bồ vẫn thích cái cây này, cô nàng hư đốn ơi! Đừng có ngốc nghếch. Sáng nay ông bác sĩ nới với mình là cơ may của bồ khỏi bệnh hẳn... xem ông ấy nói gì nào... ông ấy nói cơ may chính xác là mười trong một! Đấy cũng bằng với cơ may chúng mình có ơ New York để đáp tầu điện hay đi qua một toà nhà mới. Bây giờ ăn một tí cháo, rồi mua ít tượu vang poóc-tô cho cô bé đang bệnh, và thịt lợn cho chính tác giả ăn.

Johnsy vẫn dán mắt ra ngoài cửa sổ:
- Không cần phải mua rượu vang. Thêm một chiếc nữa. Không, mình không muốn ăn cháo. Thế là còn có bốn. Mình muốn xem chiếc lá cuối cùng trước khi trời tối. Khi ấy mình cũng sẽ ra đi. Sue nghiêng mình trên cô:
- Johnsy ơi, bồ có thể hứa nhắm mắt lại và không nhìn ra ngoài cửa sổ khi mình làm việc được không?

Ngày mai mình phải đi giao mấy bức vẽ. Minh cần ánh sáng, nếu không mình phải kéo rèm xuống.
Johnsy hỏi, giọng lạnh tanh:
- Bạn có thể vẽ trong phòng kia được không?
- Mình muốn ở kề bên bồ. Hơn nữa, mình không muốn bồ cứ nhìn mãi mấy chiếc lá thường Xuân vô duyên đó.
- Cho mình biết khi nào bạn làm xong, vì mình muốn xem chiếc lá cuối cùng rụng xuống. Mình chán chờ đợi rồi. Mình chán suy nghĩ. Mình muốn buông xuôi tất cả, và thả người trôi xuống, xuống nữa, như là một trong mấy chiếc lá mệt mỏi kia. Johnsy nhắm mắt lại, mặt tái nhợt, năm yên như la một cái tượng bị sập đổ.

- Ráng ngủ đi. Mình muốn kêu ông Behrman lên để ngồi mẫu cho mình vẽ một ông thợ mỏ già cô độc. Mình chỉ đi một phút. Đừng cựa quậy cho đến khi mình trở lại.

Ông già Behrman là một hoạ sĩ sống ở tầng trệt bên dưới phòng của họ. Ông đã quá sáu mươi, và có một chòm râu rậm như ông Moses hiện thân trên bức điêu khắc của Michael Angelo. Behrman là cả một sự thất bại trong nghệ thuật. Trong bốn mươi năm ông vung vẩy chiếc cọ mà không hề chạm gần đến vạt áo của Người Tình. Ông luôn luôn muốn vẽ nên một kiệt tác, nhưng chưa bao giờ bắt đầu. Trong vài năm nay ông không vẽ được gì ngoại trừ thỉnh thoảng ít nét quấy quá cho giới thương mại và quảng cáo. Ông kiếm tiền chút đỉnh bằng việc ngồi làm mẫu cho các hoạ sĩ trẻ trong quần cư khi họ không muốn trả theo giá của người mẫu chuyên nghiệp. Ông uống rượu gin lu bù, và vẫn nói đến kiệt tác sắp đến của ông. Còn lại thì Behrnam là một ông già nhỏ thó nhưng dữ tợn, hay chửi như té tát người nào tỏ ra yếu đuối, và xem mình như là con chó giữ nhà để bảo vệ cho hai hoạ sĩ trẻ sống ở tấng trên.
Sue tìm gặp behrman khi ông nồng nặc mùi rượu dâu trong căn phòng nhỏ tối tù mù. Trong một góc là cái giá vẽ với khung vải trống trơn, suốt hai mươi lăm năm vẫn chờ đợi đường nét đầu tiên của một kiệt tác. Cô nói cho ông nghe về chuyện hão huyền của Johnsy, về việc cô nàng - quả thật nhẹ tênh và mỏng manh như một chiếc lá - sẽ trôi đi khi sự bám víu của cô vào trần thế vốn đã yếu sẽ yếu thêm.

Ông già Behrman, với cặp mắt đỏ sòng sọc, lớn tiếng kinh thường và chế diễu cho những điều tưởng tượng ngốc nghếch:
- Khốn khổ! ở đời sao lại có người ngu xuẩn muốn chết vì mấy cái lá rụng từ một dây leo vô duyên như vậy? Tao chưa bao giờ nghe có chuyện này. Không tao sẽ không ngòi làm mẫu cho một đứa ẩn cưa ngu ngốc như mày. Tại sao mày lại để ý tưởng khùng điên đấy đi vào đầu của nó? Ôi dào, cái con nhỏ Johnsy khốn khổ!

- Chị ấy đang yếu lắm, và cơn sốt làm cho đầu óc chị ấy trở nên bệnh hoạn đầy những mơ tưởng kỳ quái. Được rồi, nếu ông không muốn ngồi làm mẫu cho tôi cũng được. Nhưng tôi nghĩ ông là một ông già xấu tính - già vô tích sự. Ông Behrman tru tréo lên:
- Mày đúng là đàn bà! Ai bảo tao không muốn ngồi làm mẫu? Đi lên đi. Tao sẽ đến. Cả nửa giờ đồng hồ rồi tao đã nói là tao sẵn sàng ngồi. Trời ơi! Đây không phải là chỗ cô Johnsy có thể năm bẹp dưỡng bệnh được. Một ngày nào đấy tao sẽ vẽ nên một kiệt tác, và bọn mình sẽ rời đi nơi khác. Trời ơi! Đúng là phải như thế.

Johnst đang ngủ khi họ lên. Sue buông cái rèm cửa xuống, ra dấu bảo Behrman đi vào phòng kia. Trong đấy, xuyên qua khung cửa sổ họ nhìn dây thường Xuân với nỗi lo sợ. Rồi họ nhìn nhau một lúc, không nói lời nào. Một cơn mưa giá lạnh đang ập xuống dai dẳng, pha cùng với tuyết. Trong chiếc áo xanh cũ kỹ, Behrman ngồi làm mẫu, giả làm một thợ mỏ ẩn cư, ngồi trên một cái ấm lật ngược giả làm một tảng đá.

Khi Sue thức giấc vào buổi sáng sau giấc ngủ kéo dài một giờ, cô thấy Johnsy đang vô hòn nhìn cái rèm màu sậm đã buông xuống. Johnsy thì thào:
- Kéo rèm lên. Mình muốn nhìn.Sue mệt mỏi làm theo bạn.
- Nhưng xem kìa! Sau trận mưa vùi dập và những cơn gió xoáy dữ tợn suốt một đêm dài, vẫn còn một chiếc lá thường Xuân dựa trên bức tường gạch. Đấy là chiếc lá cuối cùng. Vẫn còn có mầu xanh thẫm gần cuống, nhưng với phần rìa te tua pha mầu vàng của sự tàn tạ, chiếc lá vẫn dũng cảm bám vào cái cành cao dăm bảy mét cách mặt đất.

Johnsy nói:
- Đấy là chiếc lá cuối cùng. Mình nghĩ chắc chắn nó đã rụng đêm qua. Mình nghe tiếng gió. Nó sẽ rụng hôm nay, và mình sẽ chết cùng lúc với nó.Sue nghiêng khuôn mặt tóp của cô kề cận cái gối:
- Cưng ơi là cưng! Nếu cưng không nghĩ đến chính bản thân cưng thì nên nghĩ đến mình đây. Mình sẽ làm được gì chứ?

Nhưng Johnsy không trả lời. Nỗi cô đơn cùng cực nhất trên thế gian là một linh hồn chuẩn bị tiếp tục cuộc hành trình bí ẩn, xa thẳm. Điều mộng tưởng dường như đã ảm ảnh cô mạnh mẽ hơn khi những dây nối buộc cô với tình bạn và với trần thế đã bị lơi lỏng. Ngày dần trôi, và dù qua khoảng không xám xịt, họ vẫn thấy chiếc lá đơn độc bảm vào cuống của nó, dựa vào bức tường. Và rồi, khi màn đêm buông xuống, gió bắc lại thổi, trong khi mưa vẫn đập vào các cửa sổ, chảy ồng ộc xuống theo rìa mái nhà kiểu Hà Lan.Khi đã có đủ ánh sáng buổi tinh sương, Johnsy, con người vô cảm, lại ra lệnh kéo cái rèm xuống.

Chiếc lá thường Xuân vẫn còn đấy. Johnsy nằm một hồi lâu nhìn nó. Và rồi cô gọi Sue, đang quậy nồi cháo ga trên cái bếp ga. Cô nói:
- Minh là đứa hư, Sue à. Có cái gì đó đã khiến chiếc lá vẫn ở đấy để cho thấy mình quả là độc ác. Muốn chết là một cái tội. Bây giờ bồ có thể mang cho mình chút cháo, và ít sữa pha chút rượu vang póc-tô, và... không, mang trước cho mình cái gương soi cầm tay, rồi chèn ít cái gối quanh mình, rồi mình sẽ ngồi lên để xem bồ nấu nướng. Một giờ sau, cô nói:
- Sue à, một ngày nào đấy mình sẽ vẽ cảnh vịnh Naples.

Ông bác sĩ đến vào buổi xế chiều, và khi ông trở ra Sue có cớ để đi ra ngoài hành lanh. Ông nắm lấy bàn tay gầy, run rẩy của Sue đặt trong tay ông.
- Cơ may ngang bằng. Với công chăm sóc tận tuỵ của cô, cô sẽ thắng. Và giờ tôi phải đến thăm một ca khác ở tầng dưới. Người bệnh là Behrman - tôi nghĩ chừng đâu là một hoạ sĩ. Cũng viêm phổi. Ông ta già cả, yếu đuối, cơn bệnh lại là cấp tính. Không có hi vọng gì, nhưng tôi sẽ đưa ông đến bệnh viện để được thoải mái hơn.

Ngày kế, ông bác sĩ bảo Sue:
- Cô ấy qua khỏi cơn nguy rồi. Cô đã thắng. Bây giờ chỉ cần dinh dưỡng và chăm sóc - chỉ có thế thôi.

Buổi chiều ấy, khi Johsy đang đan một cái khăn quàng len mầu lam thật đậm và xem vẻ rất vô dụng, Sue đến bên giường cô, đặt cánh tay quanh cô và cũng quanh mấy cái gối.
- Mình có chuyện này nói cho bồ biết, cái con chuột trắng ơi. Ông Behrman qua đời hôm nay ở bệnh viện vì chứng viêm phổi. Ông ấy nhuốm bệnh chỉ trong có hai ngày. Người gác đã tìm thấy ông sáng ngày đầu tiên trong căn phòng tầng dưới, bất tỉnh với cái chân đau đớn. Đôi giầy và quần áo ông ấy bị ướt cả, lạnh như nước đá. Họ không thể hiểu nổi ông đã đi đâu trong một đêm kinh hoàng như thế. Và rồi họ tìm thấy cái đèn bão, vẫn cháy, và một cái thang đã bị rời khỏi nơi cất giữ, vài cây cọ tơi tả, và nghiên mầu mới ít mầu xanh và vàng, bồ nhìn ra ngoài cửa sổ xem, nhìn chiếc lá thường Xuân cuối cùng trên bức tường đấy. Bồ có đặt nghi vấn tại sao nó không bao giờ bay lất phất khi có gió thổi không? Cưng ơi, đó là kiệt tác của ông Behrman đấy - ông đã vẽ nó đúng vào đêm chiếc lá cuối cùng rơi rụng.



15 tháng 2, 2009

CHO TÌNH YÊU CỦA TÔI


Em yêu!
Anh vẫn luôn cảm ơn số phận đã mang em đến bên anh. Từ khi có em anh đã có lại được niềm tin mạnh mẽ rằng những điều tốt đẹp vẫn còn hiện hữu trên thế gian này ...
Em và anh không có nhiều thơi gian gần gũi bên nhau nhưng chúng ta có biết bao kỷ niệm với nhau, để giờ đây anh nhớ em thật nhiều. Ngày Valentine này là Valentine đầu tiên kể từ khi ta yêu nhau nhưng mình đã không được ở bên nhau như ta từng ao ước. Chúng ta chỉ có thể lên mạng để được ngắm nhìn nhau qua khoảng cách hàng mấy trăm cây số. Tuy vậy, anh cảm thấy dường như lúc nào em cũng hiện diện quanh anh và anh có thể cảm nhận được cơ thể mềm mại, ấm áp của em trong vòng tay anh; anh mơ chúng ta đang hạnh phúc bên nhau, trước mắt anh là cả một bầu trời xanh thắm của ngày đầu gặp gỡ.
Ngày Valentine này anh không có quà gì cho em mà chỉ đọc một bài viết ngắn trên blog tặng em vì thời gian đã không cho phép anh đọc truyện cổ tích như thường lệ. Em biết không, mỗi lần đọc truyện cổ tích cho em nghe trong lòng anh lại dâng lên một cảm giác thật êm đềm và trìu mến. Cô bé của anh à, anh yêu em đơn giản vì em đáng yêu, dễ thương và có một tấm lòng chân thành, sâu nặng. Anh yêu em, luôn chìm đắm trong nụ cười ấm áp như nắng đầu xuân ấy. Trong giấc mộng hàng đêm của anh, em vẫn quấn quýt đi về, cho anh được ngắm hình bóng thân thương của em mà nguôi ngoai nỗi nhớ. Em ơi! Hãy ngồi yên nhé, không nói, không cười, cũng không rơi nước mắt (em là chúa hay khóc ấy!), hãy để cho anh nhìn ngắm em thật kỹ, thật rõ, để cho anh chiêm ngưỡng em-vị thiên sứ nhỏ bé của đời anh.

Em đã biết rồi đó, bệnh tật của anh, sự xa xôi cách trở và những phức tạp của cuộc đời, đôi khi khiến anh nghĩ rằng chuyện tình của chúng ta thật mong manh. Và có lúc, anh cảm thấy mệt mỏi vì đã với tay quá cao để hái sao trên trời. Anh có nên tiếp tục gắng sức giành lấy những gì dường như vốn không dành cho một người như anh? Người ta thường nói: “Khi yêu một ai đó thì chỉ cần thấy người đó hạnh phúc là quá đủ”. Trước đây anh tin vào điều ấy và cho rằng hành động như vậy mới là cao thượng. Nhưng bây giờ càng yêu em anh càng nghi ngờ điều đó. Có lẽ đó chỉ là một kiểu triết lý khoa trương để tự bào chữa cho một tâm hồn và trái tim nguội lạnh? Không! Anh không thể hình dung được nếu mai này không có em anh sẽ ra sao...

Đã bao lần anh tự nhủ thôi thì vì hạnh phúc của em hãy để em đi. Không phải vì anh muốn làm người cao thượng hay muốn tình yêu của anh sẽ tồn tạị trong ký ức của em thật đẹp đẽ mà bởi vì anh thật lòng lo sợ mình không thể mang lại hạnh phúc đích thực cho em. Mặc dù mỗi lần nghĩ như vậy anh cảm thấy trái tim mình thật đau xót, ý nghĩ ấy vẫn thường xuyên trở đi, trở lại trong đầu anh, thúc giục anh phải quyết định xa em. Nhưng đồng thời, cũng thật là mâu thuẫn, anh cảm thấy mình vô cùng cần em, tha thiết mong có em trong cuộc đời mình. Và… từng phút, từng giây anh vẫn mong được lắng nghe tiếng nói yêu thương của em, hơi thở dịu dàng của em, vẫn mãi kiếm tìm mùi hương trên tóc em và khao khát được cận kề bên em. Không những đã không thể nguôi quên, mà ngược lại anh còn yêu em nhiều hơn, toàn vẹn như ngày nào khi anh bất chợt nhận ra con tim mình đau đáu hướng về em.

Em yêu! Anh đã không ít lần làm em phải rơi lệ vì những băn khoăn, do dự của mình. Anh còn nhớ một lần, khi nước mắt hãy còn đầm đìa trên má, em mếu máo bảo anh rằng “Anh ơi! Anh đừng bao giờ nhắc đến việc rời xa em, em đau lòng lắm. Chúng ta đâu dễ dàng gì tìm ra nhau. Anh không nghe người ta nói là phải tu ngàn kiếp mới có duyên nợ để nên vợ nên chồng hay sao? “ Anh xót xa vì đã làm em đau lòng và hết sức cảm động vì những lới lẽ chân tình của em. Anh thấy mình có lỗi với em nhiều lắm. "Thật lòng xin lỗi em nhé, tình yêu của anh!"
Em à! Giờ đây anh đã nghĩ thông suốt cả rồi. Ta đã yêu nhau đến thế thì còn ngại chi sướng khổ, còn lo chi không xứng, không cân? Khó khăn vẫn còn đó, trắc trở vẫn còn đó, không còn lựa chọn nào khác, chúng ta sẽ làm tất cả những gì có thể làm được để người ta hiểu rằng trên cuộc đời này vẫn còn đó những tấm lòng tìm đến nhau không tính toan, không vụ lợi, để chứng tỏ cho mọi người thấy rằng ta yêu nhau sâu nặng như thế nào. Em hãy tin vào anh, tin vào tình yêu và sự trân trọng anh dành cho em, tin rằng một ngày không xa anh sẽ đón em về, em nhé!

( Valentine 2009)

6 tháng 2, 2009

BÔNG HỒNG CÀI ÁO-Thích Nhất Hạnh

(Để dâng mẹ,
và để làm quà Vu Lan cho những người nào có diễm phúc còn mẹ
Medford, tháng tám 1962).
Ý niệm về mẹ thường không thể tách rời ý niệm về tình thương. Mà tình thương là một chất liệu ngọt ngào, êm dịu và cố nhiên là ngon lành. Con trẻ thiếu tình thương thì không lớn lên được.

Người lớn thiếu tình thương thì cũng không lớn lên được. Cằn cỗi, héo mòn. Ngày mẹ tôi mất, tôi viết trong nhật ký : tại nạn lớn nhất đã xẩy ra cho tôi rồi! Lớn đến cách mấy mà mất mẹ thì cũng như không lớn, cũng cảm thấy bơ vơ, lạc lõng, cũng không hơn gì trẻ mồ côi. Những bài hát, những bài thơ ca tụng tình mẹ, bài nào cũng dễ hát, cũng hay. Người viết, dù không có tài ba, cũng có rung cảm chân thành; người hát ca, trừ là kẻ không có mẹ ngày từ thưở chưa có ý niệm, ai cũng cảm động khi nghe nói đến tình mẹ, đâu cũng có, thời nào cũng có. Bài thơ mất mẹ mà tôi thích nhất, từ hồi nhỏ, là một bài thơ rất giản dị. Mẹ đang còn sống, nhưng mỗi khi đọc bài ấy thì sợ sệt, lo âu… sợ sệt lo âu cho một cái gì còn xa, chưa đến, nhưng chắc chắn phải đến :
Năm xưa tôi còn nhỏ
mẹ tôi đã qua đời!
lần đầu tiên tôi hiểu
thân phận trẻ mồ côi.
Quanh tôi ai cũng khóc
Im lặng tôi sầu thôi
để dòng nước mắt chảy
là bớt khổ đi rồi…
Hoàng hôn phủ trên mộ
Chuông chùa nhẹ rơi rơi
Tôi thấy tôi mất mẹ
mất cả một bầu trời.
Một bầu trời thương yêu dịu ngọt, lâu quá mình đã bơi lội trong đó, sung sướng mà không hay, để hôm nay bừng tỉnh thì thấy đã mất rồi. Người nhà quê Việt Nam không ưa nói cách cao kỳ. Nói rằng bà mẹ già là một kho tàng của yêu thương, của hạnh phúc thì cũng đã là cao kỳ rồi. Nói mẹ già là một thứ chuối, một thứ xôi, một thứ đường ngọt dịu, người dân quê đã diễn tả được tình mẹ một cách giản dị vừa đúng mức:
Mẹ già như chuối Ba Hương
Như xôi nếp một, như đường mía lau.
Ngon biết bao nhiêu! Những lúc miệng vừa nhạt sau một cơn sốt, những lúc như thế thì không có món ăn gì có thể gợi được khẩu vị của ta. Chỉ khi nào mẹ đến, kéo chăn đắp lại ngực cho ta, đặt bàn tay (Bàn tay? Hay là tơ trời đâu la miên ? ) trên trán nóng ta và than thở “khổ chưa, con tôi”, ta mới thấy cảm thấy đầy đủ, ấm áp, thấm nhuần chất ngọt của tình mẹ, ngọt thơm như chuối ba hương, đường mía lau, xôi nếp một ấy, không bao giờ cùng tận. Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Nước trong nguồn chảy ra thì bất tuyệt. Tình mẹ là gốc của mọi tình cảm thương yêu. Mẹ là giáo sư dạy về thương yêu, một phân khoa quan trọng nhất trong trường đại học cuộc đời. Không có mẹ, tôi sẽ không biết thương yêu. Nhờ mẹ mà tôi biết được thế nào là tình chúng sinh; nhờ mẹ mà tôi có được chút ý niệm về đức từ bi. Vì mẹ là gốc của tình thương, nên ý niệm mẹ lấn trùm ý niệm thương yêu của tôn giáo vốn cũng dạy về tình thương. Đạo Phật có đức Quán Thế Âm, tôn sùng dưới hình thức mẹ. Em bé vừa mở miệng khóc thì mẹ đã chạy tới bên nôi. Mẹ hiện ra như một thiên thần dịu hiền, làm tiêu tan khổ đau lo âu. Đạo Chúa có đức Mẹ, Thánh nữ đồng trinh Maria. Trong tín ngưỡng bình dân Việt có Thánh Mẫu Liễu Hạnh, cũng dưới hình thức mẹ. Bởi vì chỉ cần nghe đến danh từ mẹ, ta đã thấy lòng tràn ngập yêu thương rồi. Mà từ yêu thương đi tới tín ngưỡng và hành động thì không xa, chỉ mấy bước.

Tây phương không có ngày Vu Lan nhưng cũng có Ngày Mẹ (Mother’s Day) mồng mười tháng năm. Tôi nhà quê không biết cái tục ấy. Có một ngày tôi đi với thầy Thiên Ân, tới nhà sách ở khu Ginza, Đông Kinh, nửa đường gặp mấy người sinh viên Nhật, bạn của thầy Thiên Ân. Có một cô sinh viên hỏi nhỏ thầy Thiên Ân một câu, rồi lấy trong sắc ra một bông hoa cẩm chướng màu trắng cài vào khuy áo tràng của tôi. Tôi lạ lùng, bỡ ngỡ, không dám hỏi, cố giữ vẻ tự nhiên, nghĩ rằng có một tục lệ chi đó. Sau khi họ nói chuyện xong, chúng tôi vào nhà sách, thầy Thiên Ân mới giảng cho tôi biết đó là Ngày Mẹ, theo tục Tây phương. Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng. Tôi nhìn lại bông hoa trắng trên áo mà bỗng thấy tủi thân. Tôi cũng mồ côi như bất cứ một đứa trẻ vô phúc, khốn nạn nào; chúng tôi không có được cài trên áo một bông hoa màu hồng. Người được hoa hồng sẽ thấy sung sướng nhớ rằng mình còn mẹ, và sẽ cố gắng để làm vui lòng mẹ, kẻo một mai người khuất núi, có khóc than cũng không còn kịp nữa. Tôi thấy cái tục cài hoa đó đẹp và nghĩ rằng mình có thể bắt chước, áp dụng trong ngày báo hiếu Vu Lan.
Mẹ là một dòng suối, một kho tàng vô tận, vậy mà lắm lúc ta không biết, để lãng phí một cách oan uổng. Mẹ là một món quà lớn nhất mà cuộc đời tặng cho ta, những kẻ đã và đang có mẹ. Đừng có đợi đến khi mẹ chết rồi , mới nói : “trời ơi, tôi sống bên mẹ suốt mấy mươi năm trời mà chưa có lúc nào ‘nhìn kỹ’ được mặt mẹ.” Lúc nào cũng chỉ nhìn thoáng qua. Trao đổi vài câu ngắn ngủi. Xin tiền ăn quà. Đòi hỏi mọi chuyện. Ôm mẹ mà ngủ cho ấm. Giận dỗi. Hờn lẫy. Gây bao nhiêu chuyện rắc rối cho mẹ phải lo lắng, ốm mòn, thức khuya, dậy sớm vì con. Chết sớm cũng vì con. Để mẹ phải suốt đời bếp núc, vá may, giặt rửa, dọn dẹp. Và để mình bận rộn suốt đời, lên xuống ra vào lợi danh. Mẹ không có thì giờ nhìn kỹ con. Và con không có thì giờ nhìn kỹ mẹ. Để khi mẹ mất, mình có cảm nghĩ : thật như là mình chưa bao giờ thật có ý thức rằng mình có mẹ.
Chiều nay khi đi học về, hoặc khi đi làm việc ở sở về, em hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và thật bền. Em sẽ ngồi xuống bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ, mà đừng nói năng chi. Rồi em sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ để trông thấy mẹ, và để biết rằng mẹ đang sống và đang ngồi bên em. Cầm tay mẹ, em sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý. Em hỏi : “Mẹ ơi, mẹ có biết không ?” Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên, và sẽ hỏi em, vừa cười vừa hỏi : “biết gì?” Vẫn nhìn vào mắt mẹ, vẫn giữ nụ cười trầm lặng và bền, em sẽ hỏi tiếp : “mẹ có biết là con thương mẹ không ?” Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù người lớn ba bốn mươi tuổi, cũng có thể hỏi một câu như thế, bởi vì người là con của mẹ. Mẹ và em sẽ đều trở thành bất diệt và ngày mai, mẹ mất, em sẽ không hối hận, đau lòng.
Ngày Vu Lan ta nghe giảng và đọc sách nói về ngài Mục Liên và về sự hiếu để. Công cha, nghĩa mẹ. Bổn phận làm con. Ta lạy Phật cầu cho mẹ sống lâu. Hoặc lạy mười phương tăng chú nguyện cho mẹ được tiêu diêu nơi cực lạc, nếu mẹ đã mất. Con mà không có hiếu là con bỏ đi. Nhưng hiếu thì cũng do tình thương mà có; không có tình thương, hiếu chỉ là giả tạo, khó khăn, vụng về, cố gắng mệt nhọc. Mà có tình thương là có đủ hết rồi. Cần chi nói đến bổn phận. Thương mẹ, như vậy là đủ. Mà thương mẹ không phải là một bổn phận. Thương mẹ là một cái gì rất tự nhiên. Như khát nước thì uống. Con thì phải có mẹ, phải thương mẹ. Chữ phải đây không phải là luân lý, là bổn phận. Phải đây là lý đương nhiên. Con thì đương nhiên thương mẹ, cũng như khát thì đương nhiên đi tìm nước uống. Mẹ thương con, nên con thương mẹ. Con cần mẹ, mẹ cần con. Nếu mẹ không cần con, con không cần mẹ, thì đó không phải là mẹ, là con. Đó là lạm dụng danh từ mẹ con. Ngày xưa, thầy giáo hỏi rằng : “con mà thương mẹ thì phải làm thế nào ?” Tôi trả lời : “vâng lời, cố gắng, giúp đỡ, phụng dưỡng lúc mẹ về già và thờ phụng khi mẹ khuất núi.” Bây giờ thì tôi biết rằng : “con thương mẹ thì không phải “làm thế nào” gì hết. Cứ thương mẹ, thế là đủ lắm rồi, đủ hết rồi, cần chi phải hỏi làm thế nào nữa!”
Thương mẹ không phải là một vấn đề luân lý đạo đức. Anh mà nghĩ rằng tôi viết bài này để khuyên anh về luân lý đạo đức là anh lầm. Thương mẹ là một vấn đề hưởng thụ. Mẹ như suối ngọt, như đường mía lau, như xôi nếp một. Anh không hưởng thụ thì uổng cho anh. Chị không hưởng thụ thì thiệt cho chị. Tôi chỉ cảnh cáo cho anh chị đừng có than thở rằng : “đời ta không còn gì cả.” Một món quà như mẹ mà còn không vừa ý thì hoạ chăng có làm Ngọc Hoàng Thượng Đế mới vừa ý, mới bằng lòng, mới sung sướng. Nhưng tôi biết Ngọc Hoàng không sung sướng đâu, bởi Ngọc Hoàng là đấng tự sinh, không bao giờ có diễm phúc có được một bà mẹ.
Tôi kể chuyện này, anh đừng nói tôi khờ dại. Đáng lẻ chị tôi không nên đi lấy chồng, và tôi, tôi không nên đi tu mới phải. Chúng tôi bỏ mẹ mà đi, người thì theo cuộc đời mới bên cạnh người con trai thương yêu; người thì đi theo lý tưởng đạo đức mình say mê và tôn thờ. Ngày chị tôi đi lấy chồng, mẹ tôi lo lắng lăng xăng, không tỏ vẻ buồn bã chi. Nhưng đến khi chúng tôi ăn cơm trong phòng, ăn qua loa để đợi giờ rước dâu, thì mẹ tôi không nuốt được miếng nào. Mẹ nói : “mười tám năm trời nó ngồi ăn cơm với mình, bây giờ nó ăn bữa cuối cùng rồi thì nó sẽ đi ăn ở một nhà khác.” Chị tôi gục đầu xuống mâm cơm, khóc. Chị nói : “thôi con không lấy chồng nữa.” Nhưng rốt cuộc thì chị cũng đi lấy chồng. Còn tôi thì bỏ mẹ mà đi tu. Các ái từ sở thân, là lời khen ngợi người có chí xuất gia. Tôi không tự hào chi về lời khen đó cả. Tôi thương mẹ, nhưng tôi có lý tưởng, vì vậy phải xa mẹ. Thiệt thòi cho tôi, có thế thôi. Ở trên đời, có nhiều khi ta phải chọn lựa. Mà không có sự chọn lựa nào là không khổ đau. Anh không thể bắt cá hai tay. Chỉ khổ là vì muốn làm người nên anh phải khổ đau. Tôi không hối hận vì bỏ mẹ đi tu, nhưng tôi tiếc và thương cho tôi vô phúc thiệt thòi, nên không được hưởng thụ tất cả kho tàng quí báu đó. Mỗi buổi chiều lạy Phật, tôi cầu nguyện cho mẹ. Nhưng tôi không được ăn chuối ba hương, xôi nếp một và đường mía lau.
Anh cũng đừng tưởng tôi khuyên anh: không nên đuổi theo sự nghiệp mà chỉ nên ở nhà với mẹ. Tôi đã nói là tôi không khuyên răn ai hết, tôi không giảng luân lý đạo đức rồi mà. Tôi chỉ nhắc anh : mẹ là chuối, là xôi, là đường, là mật, là ngọt ngào, là tình thương. Để anh đừng quên. Để chị đừng quên. Để em đừng quên. Quên là một lỗi lớn : Cũng phải là lỗi nữa, mà là một sự thiệt thòi. Mà tôi không muốn anh chị thiệt thòi, vô tình mà bị thiệt thòi, khờ dại mà bị thiệt thòi. Tôi xin cài vào túi áo một bông hoa hồng : để anh sung sướng , thế thôi.
Nếu có khuyên, thì tôi sẽ khuyên anh như thế này. Chiều nay, khi đi học về, hoặc đi làm về, anh hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và thật bền. Anh sẽ ngồi xuống bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ, mà đừng nói năng chi. Rồi anh sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ để trông thấy mẹ, và để biết rằng mẹ đang sống và đang ngồi bên anh. Cầm tay mẹ, anh sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý. Anh hỏi : “Mẹ ơi, mẹ có biết không ?” Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên, và sẽ nhìn anh, vừa cười vừa hỏi: “biết gì?” Vẫn nhìn vào mắt mẹ, vẫn giữ nụ cười trầm lặng và bền, anh sẽ hỏi tiếp: “mẹ có biết là con thương mẹ không ?” Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù anh lớn ba bốn mươi tuổi, chị lớn ba bốn mươi tuổi thì cũng hỏi câu ấy. Bởi vì anh, bởi vì chị, bởi vì em đều là con của mẹ. Mẹ và anh sẽ sung sướng, sẽ được sống trong ý thức tình thương bất diệt . Và ngày mai, mẹ mất, anh sẽ không hối hận, đau lòng, tiếc rằng anh không có mẹ.
Đó là điệp khúc tôi muốn ca hát cho anh nghe hôm nay. Và anh hãy ca, chị hãy ca, em hãy ca cho cuộc đời đừng chìm trong vô tâm, quên lãng. Đoá hoa màu hồng tôi cài trên áo anh rồi đó. Anh hãy sung sướng đi

4 tháng 2, 2009

GIỮ HỘ ANH HƯƠNG MÙA XUÂN, EM NHÉ!


“Tôi không biết tình yê
u có thể đến nhanh như vậy, cho đến khi tôi nhìn vào mắt em. Lần đầu tiên và tôi biết nó đã là mãi mãi. Người ta bảo những gì đến nhanh thường không bền vững. Nhưng với tình yêu này, tôi biết sẽ không gì thay đổi, cho dù một ngày kia em sẽ bỏ tôi ra đi. Tôi sẽ đi tìm dù em ở bất cứ nơi đâu. Vì tôi muốn em biết rằng tình yêu của tôi là mãi mãi”
(Trích truyện ngắn “HƯƠNG MÙA THU” của Nguyễn Thị Châu Giang)

Đã bao năm mùa xuân đến cùng tôi trong cảm giác cô đơn trống trải. Có những cái Tết tôi loanh quanh từ nhà ra ngõ rồi trở vào nằm lì trong phòng lắng nghe tiếng xôn xao từ phố xá vọng về, lắng nghe tiếng cười đùa đâu đó để biết rằng mùa xuân đang đến và mọi người đang vui. Cứ thế nhiều mùa xuân âm thầm và lặng lẽ đi qua đời tôi. Thỉnh thoảng có người quen gọi điện hỏi "Ăn Tết vui không?" Tôi đành trả lời qua quít "Cũng bình thường". Nếu như lúc ấy người ta lại hỏi tôi về không khí đón Tết của Đà Lạt, có lẽ tôi phải thú nhận là không biết, bởi vì có mấy khi tôi ra ngoài dạo phố. Dù ở Đà Lạt tôi vẫn thấy mình xa Đà Lạt nhiều lắm...

Mùa xuân này là mùa xuân đầu tiên tôi có em, được ở bên em và cảm nhận thế nào là một mùa xuân đúng nghĩa - mùa xuân của yêu thương và hạnh phúc. Em ơi, em có nghe không, gió xuân đang mơn man thổi, em có thấy không nắng xuân đã tràn trề rót mật khắp đất trời, em có cảm nhận hương mùa xuân dạt dào trong từng hơi thở khi ta trao nhau những nụ hôn nồng nàn nhất? Đây, chén trà thơm đã rót đầy rồi, này người yêu dấu của tôi ơi, mời em nâng chén mừng mùa xuân đang tới giữa hồn ta ướp đầy nắng gió thênh thang ...

Em ơi, giây phút giao mùa thiêng liêng và trầm lắng đã đến. Ta đã trao nhau những lời chúc tốt đẹp và chân thành nhất. Tay nắm tay nhau mà nguyện ước lứa đôi cho yêu thương tràn ngập con tim. Khi em nép vào lòng tôi đầy tin cậy, tôi có thể nghe cả nhịp đập từ trái tim yêu thương của em, ngửi được hương tóc em hòa lẫn trong hương xuân nhẹ nhàng thanh khiết. Từ kiếp nào tôi đã vương mang hình bóng của em để rồi giờ đây, từ một người con gái xa lạ em bỗng trở thành một nửa đời tôi? Có lẽ từ kiếp nào nghĩa nặng tình sâu, duyên nợ đắp bồi nên bây giờ ta mới tìm được ra nhau chứ nào phải tình cờ như mây gặp gió. Em ơi! Với tình yêu của em tôi cảm thấy mình là người hạnh phúc nhất thế gian này...

Bây giờ em đã lại rời xa tôi trở về với công việc thường ngày. Em đi, dường như mang cả mùa xuân theo cùng khiến bầu trời quanh tôi bỗng ảm đạm và lòng tôi chùng xuống, thẫn thờ ngơ ngẩn ra vào. Rồi mùa xuân sẽ lại qua đi, như đóa hoa kia rồi cũng sẽ úa tàn nhưng tôi tin tình ta mãi mãi không phai phôi...
"Hãy giữ hộ anh hương mùa xuân, em nhé!"
̀