23 tháng 4, 2009

XIN EM MỘT NỬA


Dẫu tình một thóang hư không
Dám đâu vô thủy, vô chung nửa vời
Nửa hồn chua xót đầy vơi
Thương em đứt ruột, thương tôi bẽ bàng
Nửa đường tình quá gian nan
Em ơi, đã trót đa mang phận người
Nửa thì buồn, nửa lại vui
Bên em chợt thấy cuộc đời đáng yêu
Nửa đời xế bóng cô liêu
Làm sao san sẻ những điều thiết tha?
Nửa muốn gần, nửa muốn xa
Đời chông chênh quá nên ta ngại ngùng

"Đã yêu chẳng có nửa chừng"
Lời em thấm thía tận cùng con tim
Nửa câu cũng nhớ không quên
Cúi xin thâm tạ ân tình mênh mông
Xin em nửa đóa môi hồng
Đêm về ủ giấc phiêu bồng cỏ hoa...

17 tháng 4, 2009

Bạch Lan trong giấc mơ tôi


"We are such stuff
As dreams are made on,
And our little life
Is rounded with a sleep"

(Ta cũng như giấc mộng
Cùng chất liệu dệt thành
Và đời người nhỏ bé
Gói tròn: Giấc chiêm bao )

(Shakespear-The Tempest)

Giấc mộng này đi qua, nhưng giấc mộng khác sẽ đến và hồi sinh. Chỉ có Niềm tin là đáng nuôi dưỡng khi bóng tối vây phủ trên giấc mộng loài người.

(Erich Maria Remarque - A Time to Love, A Time to Die)



Có lẽ là may mắn, nếu còn có những giờ phút lặng lẽ yên bình của riêng mình- niềm bình yên khi những thú vui phù du đã tàn. Có những lúc ta bám víu vào sự nhộn nhịp của những người xung quanh để quên sự cô đơn cùng cực. Mọi cái chỉ tạm giúp ta quên chính ta-hiện thân của nỗi cô đơn, khi ta hoà vào mọi người. Nhưng lúc không còn ai, một mình ta với cơn đau, một mình ta với nỗi buồn sâu thẳm và một mình chợt nghe nỗi niềm nào đó đầy ắp, chống chếnh trong tim. Ôi, những phút tàn tiệc của đời sao luôn mang đến giữa lòng ta một nỗi xót xa kỳ lạ. Một dự cảm mong manh mà bền chặt: Tất cả rồi đều sẽ kết thúc.

Ta vẫn biết mọi điều không thể tính bằng ngày tháng. Thế nhưng lòng vẫn thấy bàng hoàng khi ba mươi năm đi qua như chỉ trong thoáng chốc. Như một giấc mơ. Từng ấy thời gian, từng ấy tháng năm đi về đâu? Đã bao mùa dã quỳ trổ hoa vàng rực rỡ trên những con đường ngày xưa chưa một lần ta trở lại? Mà hoa ơi, dẫu có về thăm lại thì ta biết tìm đâu những đóa hoa vàng của một thời vụng dại? Vậy đấy, ta vẫn cứ khắc khoải với những “bất khả” ở cuộc đời này cho dù biết như thế là vô ích . Ta vẫn mộng và hoài mộng dù biết thế chỉ là phù phiếm ...

Đêm qua ta mơ thấy một nhành lan trắng muốt; những cánh hoa mịn màng trắng trong rung rinh trong gió, màu trắng tinh khiết ấy như khẽ chạm vào và lay động cả trái tim ta. Bất giác một sự ngưỡng mộ và trìu mến khiến ta cúi xuống định hôn vào hoa nhưng môi ta vừa đưa tới thì hoa bỗng lùi xa. Bỗng dưng hoa hóa thành một người con gái xinh đẹp. Da em trắng ngần. Em mặc một bộ quần áo màu trắng, phiêu phất mơ hồ như mây, như sương khói. Khuôn mặt trông nghiêng thanh tú, cánh mũi thẳng, đôi mắt long lanh dõi theo ta như giận, như hờn, như quan tâm, như lưu luyến. Ta chơi vơi giữa một trời huyền ảo, tình mộng ý thơ mà lòng bàng hoàng thảng thốt. Em là ai? Là người con gái của một thuở thiếu thời ta từng thêu hoa dệt mộng? Là nàng tiên của một thời diệu kỳ cổ tích mà ta từng mê say? Em ngồi đó, ngời sáng vẻ trắng trong thánh thiện đến nao lòng khiến tim ta choáng ngợp. Bỗng chốc ta quên đi thân phận vật vờ và chỉ còn thấy hình ảnh của em rực sáng đến từng góc khuất u ám của hồn mình...

Nhưng ... có tiếng thì thầm từ đâu đó nhắc nhở ta rằng giữa ta và em là một khoảng cách mênh mông vời vợi. Là khoảng cách của năm tháng, khoảng cách của một đời ấp ôm nhiều vọng tưởng mà tay trắng vẫn hoàn trắng tay? Hay đó chính là khoảng cách của vô tận thời gian, của vô tận không gian mà trời đất đã sắp bày để ta tìm thấy em trong muộn màng ngang trái? Cả một thời tuổi trẻ của ta đã trôi qua cùng với những năm tháng vật vã, đớn đau trên giường bệnh. Tuổi thanh xuân của em đang bừng nở giữa đất trời bao la. Em- đóa hoa trắng ngần lung linh sắc màu thánh thiện. Ta- chiếc lá úa vàng một ngày cuối đông còn nuối chút nắng chiều sắp tắt! Làm sao ta có thể tới gần em? Làm sao ta chạm được vào em? Làm sao ta có thể biết có mảnh bóng hình nào của mình vương vấn trong đáy mắt em chăng?

Bạch Lan hỡi! Một đời thôi đã lỡ
Tình mênh mông chợt nhói buốt trái tim

Trái tim ta ơi! Sao còn mãi khắc khoải đớn đau đến thế?! Bến nào là bến bờ Hạnh phúc dành cho ta? Vì sao đã mệt nhoài mà lòng còn chưa tìm được chút bình yên? Ta đứng đó mang linh hồn một tượng đá với nỗi đau riêng trong tâm, với mất mát trong hồn, một vết thương có lẽ chẳng bao giờ lành ...

Xưa Trang Chu nằm mơ thấy mình hóa bướm, tỉnh dậy ngẩn ngơ tự hỏi "Không biết trong mơ Chu hóa thành bướm hay trong mơ bướm biến thành Chu?" Còn ta, ta không cần biết em là hoa hóa thành người hay là người biến thành hoa. Dù là ai em vẫn là kết tinh của tất cả những gì ta khát khao và say đắm...
Giấc mơ ấy phải chăng là một thoáng tự an ủi mình khi được gặp lại những gì trong tâm mình thường luyến nhớ? Ừ, thì ta vẫn hằng nhớ về em đấy thôi, đóa Bạch Lan của ta ơi!

Đã biết chẳng thể trăm năm
Đã biết chỉ là thoáng chốc
Xin nhỏ xuống đôi hàng lệ ngọc
Và cúi xin thâm tạ ơn Đời.

Tạ ơn đời vì còn được nhìn thấy em, còn được mộng về em. Với ta như thế cũng đã là may mắn lắm rồi. Giờ đây sau những thất vọng về sự chật hẹp của lòng người, ta không mong gì hơn là tìm được chút bình yên trong tâm hồn đã mang quá nhiều chua xót. Xin em hiểu cho ta. Và...nếu có thể, xin em một nụ cười tha thứ.

(Đà Lạt – Những ngày mưa đầu mùa)

15 tháng 4, 2009

GIÁ TRỊ CỦA THỜI GIAN

Một kỹ sư đã tính được rằng với một thanh sắt nặng 5kg, chúng ta có thể làm được một trong các việc sau đây:
Nếu làm đinh sẽ bán được 10 USD.
Nếu làm kim may sẽ bán được 300 USD.
Còn nếu dùng làm những cái lò xo đồng hồ sẽ đem lại 25.000 USD

Mỗi ngày đều cho chúng ta 24h bằng nhau, còn sử dụng những nguyên liệu đó như thế nào, dùng chúng để làm gì là tùy thuộc chúng ta. Thời gian là một trong những thứ hiếm hoi duy nhất mà khi đã mất rồi chúng ta không thể nào tìm lại được. Tiền bạc mất đi có thể tìm lại được. Ngay cả sức khỏe nếu mất đi cũng có khả năng phục hồi được. Nhưng thời gian sẽ không bao giờ quay bước trở lại.

Không có cụm từ nào tai hại cho bằng ba chữ “Giết - thời - gian”. Nhiều người tìm những thú vui, tìm những việc làm để chỉ mong giết thời gian. Thật ra chúng ta được ban cho thời gian để sử dụng chứ không phải để giết chúng.

(sưu tầm)

11 tháng 4, 2009

ĐÓ MỚI LÀ YÊU

(Khi bỏ qua tất cả cảm xúc, niềm si mê, sự lãng mạn mà ta vẫn thấy còn yêu thì đó chính là tình yêu.)

Phải chăng là khi tim bạn đập nhanh, lòng bạn tay bạn ướt đẫm mồ hôi, giọng nói bạn phải chạy theo mới có thể bắt kịp với nhịp đập trái tim nơi lồng ngực?
Đó chưa phải là yêu… Chỉ là THÍCH.
.
Phải chăng là bạn không thể giữ cho mắt và tay bạn rời khỏi họ?
Đó chưa phải là yêu… Chỉ là SỰ THÈM MUỐN.

Phải chăng là bạn luôn hãnh diện và háo hức muốn khoe họ với mọi người vì họ rất tuyệt?
Đó chưa phải là yêu… Chỉ là bạn cảm thấy MAY MẮN.

Phải chăng là bạn cần họ vì bạn biết họ đang có mặt bên cạnh bạn?
Đó chưa phải là yêu… Bạn cảm thấy như thế, bởi vì bạn đang CÔ ĐƠN.

Phải chăng là bạn ở bên cạnh họ vì đó là điều họ muốn?
Đó chưa phải là tình yêu… Chỉ là LÒNG TRUNG THÀNH.

Phải chăng là bạn ở bên họ vì vẻ bề ngòai của họ làm cho tim bạn đập nhanh hơn?
Đó chưa phải là yêu… Chỉ là SỰ SAY MÊ

Phải chăng là bạn tha thứ mọi lỗi lầm của họ vì bạn quan tâm họ?
Đó không phải là yêu… Đó là TÌNH BẠN.

Phải chăng là khi bạn nói với họ rằng họ là người duy nhất bạn nghĩ tới?
Bạn không yêu họ rồi vì… bạn đã NÓI DỐI.

Phải chăng là bạn cho họ những thứ bạn thích vì lợi ích của họ?
Đó chưa phải là tình yêu… Chỉ là LÒNG THẢO.


Thế nhưng…
Khi tim bạn vỡ vụn và đau nhói những lúc họ buồn...
Đó mới là YÊU.

Khi những người khác dù có thu hút bạn, nhưng bạn vẫn ở lại bên cạnh họ một cách không hối hận…
Đó mới là YÊU.

Bạn chấp nhận lỗi lầm của họ vì bạn biết đó là một phần tính cách của họ…
Đó mới là YÊU.

Khi bạn khóc vì những nỗi đau của họ, dù là nhiều lúc đối với những nỗi đau đó, họ còn cứng cỏi hơn cả bạn nữa…
Đó mới là YÊU.

Khi bạn cảm thấy như ánh mắt của họ nhìn thấu tim bạn, chạm vào tâm hồn bạn một cách sâu sắc đến đau lòng…
Đó mới là YÊU.

Phải chăng bạn bằng lòng đưa trái tim, cuộc đời, sự sống cho họ?
Nếu có thì đó là YÊU.

(Theo Internet)



20 tháng 3, 2009

CŨNG ĐÀNH


Biết rằng đời chẳng như mơ
Biết rằng chẳng thể mong chờ trăm năm
Cũng đành nhớ trộm thương thầm
Gối đơn lẻ chiếc, dấu nằm lẻ đôi
Phận người-phận cỏ chơi vơi
Nỗi niềm vò xé rối bời trong ta
Đò tình lỡ chuyến thiết tha
Cũng đành ôm chút lụa là dư hương
Dìu nhau qua những yêu thương
Dìu chi qua chốn đoạn trường, Người ơi!
Đau này xin giữ riêng tôi
Sướng vui cầu chúc cho Người trăm năm.

17 tháng 3, 2009

TÌNH YÊU


Đã một năm kể từ khi Susan bị mù vì một chẩn đoán sai của bác sĩ, cô đột ngột bị ném vào thế giới của bóng tối, tức giận, tuyệt vọng và mặc cảm. Và tất cả những gì đủ để cô còn bám víu vào cuộc sống là vì bạn trai cô - Mark. Mark là một sĩ quan quân đội. Anh rất yêu Susan, đã nhìn thấy cô tuyệt vọng đến mức nào, anh quyết định giúp Susan lấy lại được sức mạnh và tự lập... Đầu tiên, anh tìm cho cô một công việc dành cho người khiếm thị. Nhưng làm sao cô đến chỗ làm việc được đây? Mark đề nghị đưa cô đến chỗ làm hằng ngày, dù hai người ở hai đầu thành phố. Tuy nhiên sau đó, Mark nhận ra rằng đó không phải là giải pháp. Susan sẽ phải tự mình đi xe buýt, tự đến chỗ làm - đó mới là cách đúng. Nhưng Susan rất nhạy cảm, cô ấy sẽ phản ứng thế nào?

Đúng như với Mark nghĩ, Susan hết sức hốt hoảng khi nghe tới việc mình phải tự đi xe buýt. “Em bị mù mà”- Cô phản ứng bằng giọng cay đắng -”Làm sao em biết em sẽ đi đến đâu? Anh bỏ rơi em phải không?” Mark rất đau lòng khi nghe những lời đó, nhưng anh biết phải làm gì. Anh hứa sẽ cùng cô đi xe buýt mỗi sáng và mỗi chiều, bao lâu cũng được, cho đến bao giờ cô quen với việc đi xe buýt.

Trong hai tuần liền, Mark trong bộ đồng phục quân đội, đi theo Susan đến nơi làm việc. Anh dạy cô làm sao để sử dụng các giác quan khác, nhất là thính giác, để biết mình đang ở đâu và làm sao để quen với môi trường mới. Anh cũng giúp cô làm quen với những người lái xe buýt, nhờ họ để mắt đến cô, giữ cho cô một chỗ ngồi hằng ngày...
Cuối cùng, Susan nói cô có thể tự đi được. Sáng thứ hai, lần đầu tiên, họ đi theo hai hướng khác nhau.

Thứ ba, thứ tư, thứ năm... Mỗi ngày Susan đều tự đi xe buýt đến chỗ làm và đón xe buýt đi về. Susan cảm thất rất vui vì cô vẫn tự mình làm được mọi việc. Thứ hai của năm tuần sau đó, Susan đón xe buýt đi làm như mọi khi. Khi cô đang đóng tiền mua vé tháng cho người lái xe, bỗng anh lái xe nói: “Tôi thật ghen tỵ với cô đấy nhé!”. Susan không biết có phải anh ta nói với mình không. Nhưng nói cho cùng, có ai mà lại đi ghen với một cô gái mù đang đấu tranh để mà sống chứ? Cô hỏi:
- Sao anh lại ghen với tôi được?
- Vì cô được quan tâm và bảo vệ. Cô quả là hạnh phúc!
- Tôi được bảo vệ? Anh nói thế tức là sao?
- Suốt mấy tuần qua, sáng nào tôi cũng thấy một chàng trai mặc đồng phục quân đội lái xe theo, rồi đứng bên kia đường nhìn cô xuống xe. Anh ta nhìn theo đến khi cô đi qua đường an toàn, đi vào nơi cô làm việc và vẫy tay chào cô rồi mới lái xe đi. Cô quả là một người may mắn!
Susan khóc. Vì cô không nhìn thấy Mark nhưng cô cảm thấy Mark ở bên cạnh. Cô là người may mắn vì cô đã nhận được một món quà mà cô không cần phải nhìn thấy tận mắt để tin: món quà của tình yêu có thể mang ánh sáng đến những nơi nhiều bóng tối nhất.

10 tháng 3, 2009

NGÀY XƯA



Em mười sáu tuổi, tôi mười sáu
Ta làm hàng xóm đã lâu rồi
Nhà em có trồng giàn mát mát*
Em thường hái trái ném sang tôi

Em bảo:Ăn đi! Thơm ngọt lắm!
Tôi cười ngượng nghiu ghé răng vào
Mát mát còn xanh, chua như giấm
Nhìn tôi nhăn mặt em... lêu lêu!

Mỗi lúc gặp nhau tôi gọi: "Chị"
Em bĩu môi cười bảo:"Chào em!"
Tôi dại khờ, em càng khờ dại
Mát mát còn xanh vẫn cứ thèm!

Tôi tạc hình em trên phấn viết
Hai lúm đồng tiền khoét nhỏ, to
Em lắc đầu chê: Trông xấu quá
Em véo tôi đau đến... tận giờ!

Bị tôi trêu mãi em ngúng nguẩy
Em bảo giận tôi, mai chẳng sang
Mày chau, mũi hếch, môi cong cớn
Thế nhưng con mắt thì... liếc ngang

Chỉ vu vơ cũng đủ vấn vương
Khi giận, trông em thật dễ thương
Em bảo dễ thương? Thương không dễ!
Cứ thử đi mới biết ...đoạn trường!

Đôi mắt em như cánh sao rơi
Hồn tôi đã lạc bến mê rồi
Thao thức đêm dài tôi dệt mộng
Hai đứa bên nhau đến trọn đời...

Thế mà lâu quá bặt tin nhau
Tôi như đất hạn ngóng mưa rào
Chẳng giận, chẳng hờn mà xa cách
Tôi biết tình em chẳng dat dào

Ôi! Giận mà thương, thương mà giận
Má lúm đồng tiền thuở xưa ơi !
Chẳng biết bây giờ em có nhớ
Chút tình thơ dại đã xa xôi?

Sài Gòn, Trung Tâm CTCH THĐ

(*mát mát:tên gọi khác của chanh dây)

9 tháng 3, 2009

Một ngày bỗng ước mình là cỏ


Em lên thăm anh, niềm vui chưa kịp thỏa thì chuyện buồn đã ập tới. Ta đưa nhau lên đồi, đưa nhau vào ngôi nhà thờ nhỏ tìm nơi nghỉ chân mà ngỡ như hai kẻ trốn chạy đang tìm chốn nương thân. Ngồi bên nhau trong góc giáo đường em dựa vai anh ngủ ngoan như một cô mèo nhỏ sau một chuyến đi dài mệt nhọc. Anh cố nén tiếng thở dài, nhìn lên thánh giá thầm nguyện: "Chúa ơi, chúng con chỉ là hai kẻ ngoại đạo lạc bước đến đây mong tìm chút bình yên trước những bão giông của cuộc đời. Xin Chúa lòng lành hãy ban cho con niềm tin và sức mạnh để vượt qua thử thách này". Rồi lặng yên lắng nghe hơi thở của em, cảm nhận được sự tin cậy vô điều kiện em dành cho anh, cả linh hồn anh trào dâng một nỗi đau vô bờ bến, một nỗi đau không thốt được nên lời.
Em ơi, hãy ngủ ngoan đi nhé! Ngủ cho quên những ngang trái của cuộc đời, ngủ cho nguôi nỗi ngậm ngùi bởi lòng người hoang lạnh, ngủ cho khuây đi nỗi đau này. Ngủ đi em, trong giấc mộng của em sẽ không có những lời cay đắng làm em buồn tủi, ở đó em sẽ cười rạng rỡ và đôi mắt sẽ ngời lên vì hạnh phúc như khi em đón nhận những đóa hồng anh trao. Ngủ ngoan nhé! Cô bé tội nghiệp của anh ...
Em biết không, anh cảm thấy thật sự mệt mỏi sau những gì đã xảy ra. Ngoài kia cỏ trải mượt trên triền đồi nghiêng nghiêng mình đón nắng. Anh chợt muốn nằm lăn ra trên cỏ. Ước gì bây giờ anh cũng là một trong những ngọn cỏ mềm bé nhỏ khép đôi cánh lá nằm kia, ngủ một giấc thật dài, không oán trách, không giận hờn, không buồn tủi. Ai bảo rằng cỏ dại? Cỏ ơi! Chắc chỉ mình cỏ hiểu rằng vì sao có một ngày ta bỗng ước mình là cỏ?...
CỎ HỒNG-Phạm Duy.
Rước em lên đồi, cỏ hoang ngập lối
Rước em lên đồi, hẹn với bình minh
Ðôi chân xinh xinh như tình thôi khép nép
Hãy vứt chiếc dép, bước đi ôm cỏ mềm
Ðồi êm êm, cỏ im im, ngủ yên yên, mộng rất hiền
Giọt sương đêm còn trinh nguyên
Nằm mê man chờ nắng sớm lên, rước em lên đồi tiên
Đồi nghiêng nghiêng, cỏ lóng lánh,
Rồi rung rinh, bừng thoát giấc lành
Trời mông mênh, đồi thênh thênh
Cỏ chênh vênh chờ đôi nhân tình
Rước em lên đồi xanh ! Rước em lên đồi trinh.
Mời em lên núi cao thanh bình
Cỏ non phơn phớt ôm chân mình
Mời em rũ áo nơi đô thành
Cùng ta lên núi cao thanh thanh
Em ơi ! Ðây con đồi dài, như bao nhiêu mộng đời
Nghiêng nghiêng nghe mặt trời yêu đương.

Níu em trên đồi, cỏ thơm mùi sữa
Níu em yêu ngồi trên bãi cỏ non
Giương đôi tay ôm thân tròn ơn mưa móc
Hãy xoã mái tóc, rũ trên vai anh mòn
Ðồi quen quen, cỏ ngoan ngoan, tưởng mơn man làn tóc rối mềm
Rồi nghe thêm lời van xin
Từ trong tim hoặc dưới suối tiên, ngã êm trên cỏ hoang
Trời trong em, đồi choáng váng, rồi run lên cùng gió bốn miền.
Cỏ không tên nằm thênh thang, rồi vươn lên vì ta yêu nàng
Hỡi ôi con đồi ngoan! Hỡi ôi cỏ hồng hoang!
Cỏ xanh đổi sắc theo nhân tình
Mặt trời cũng đang soi tia lành
Cỏ hoang xao xuyến trên ngọn ngành
Ðỏ như trong giấc mơ lung linh
Em ngoan như tình nồng, em bao la mịt mùng
Em thơm như cỏ hồng em ơi!

ĐÀ LẠT - Đêm không ngủ
Ca khúc "Cỏ hồng" của nhạc sĩ Phạm Duy

3 tháng 3, 2009

Gửi người trăm năm sau

 Gửi người trăm năm sau

Chỉ có em mới biết
Vì sao anh xót xa
Chỉ có em mới hiểu
Tâm hồn anh thiết tha

Vì sao e không nói
Chỉ một lời yêu thương?
Để hồn anh giông bão
Lay lắt những đêm trường…

Em còn mãi xa xôi
Anh còn mãi ngậm ngùi
Tình yêu như lá mỏng
Bay đi không một lời

Anh về qua phố núi
Mắt buồn trong mưa thưa
Sầu lên từ vạn nẻo
Đẫm hồn anh như mưa…

Tiếng chuông chiều chợt vọng
Bên dốc cao nhà thờ
Anh như rồi giấc mộng
Lạc đường đứng ngẩn ngơ…

Từ ly thành kẻ lạ
Hoa trái cũng phù vân
Lòng chợt nghe thiền động
Trên từng nhịp bước chân…

Chỉ có e mới biết
Vì sao ta xa nhau
Mùa xuân này hiu hắt
Xác thân này hư hao

Ôi, tình như nắng ấm
Giữa đời ta hoang vu
Nhưng tình đi không hết
Để lòng ta âm u…

Em về nơi xa ấy
Dẫu còn nhớ hay quên
Ru giùm ta đi nhé
Một nỗi buồn không tên

Biết bao nhiêu hoài vọng
Chôn vùi giữa tình đau
Đong đầy chưa nỗi nhớ
Gửi người trăm năm sau.

(Xuân Đinh Hợi 2007)









28 tháng 2, 2009

Truyện ngắn hay: CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG -O'Henry



Trong một quận nhỏ phia đông Washington, các con đường chạy ngoằn nghoèo một cách điên dại, cắt quãng thành những dải nhỏ gọi là “vùng”.

Những “vùng” này lọt thỏm trong những góc và đường cong lạ kì. Một con đương cắt ngang với chính nó một, hai lần. Một hoạ sĩ đã có lần khám phá là con đường có thể có giá. Ví dụ như khi một nhân viên thu ngân cầm hoá đơn của mầu vẽ, giấy và vải, sau khi đi dọc theo đường này bỗng thấy mình đã đi vòng lại chỗ cũ mà không hề thu được một xu nào cả!.

Thế nên đám hoạ sĩ chẳng bao lâu đã kéo đến phường Greenwich, săn lùng phòng cho thuê có cửa sổ thông ra hướng bắc, góc mái kiểu thế kỷ 18, gác lửng kiểu Hà Lan, và giá thuê lại rẻ. Sau đấy họ mang vào vài lọ hợp kim thiếc, một hai cái chảo nấu ăn dã chTrong một quận nhỏ phia đông Washington, các con đường chạy ngoằn nghoèo một cách điên dại, cắt quãng thành những dải nhỏ gọi là “vùng”.

Những “vùng” này lọt thỏm trong những góc và đường cong lạ kì. Một con đương cắt ngang với chính nó một, hai lần. Một hoạ sĩ đã có lần khám phá là con đường có thể có giá. Ví dụ như khi một nhân viên thu ngân cầm hoá đơn của mầu vẽ, giấy và vải, sau khi đi dọc theo đường này bỗng thấy mình đã đi vòng lại chỗ cũ mà không hề thu được một xu nào cả!iến, và thế là một “quần cư” thành hình.

Hai cô Sue và Johnsy cùng thuê chung một căn phòng đơn giản ở tầng trên cùng của một toà nhà ba tầng lụp xụp. “Johnsy” thực ra là tên thân mật của California. Họ đã gặp nhau tại một hiệu ăn trên đường Số Tám, và khám phá ra là họ có những sở thích tương đồng về nghệ thuật, rau diếp xoắn trộn dấm, và thời trang với tay áo giám mục. Thế là họ cùng thuê chung một căn phòng.Đấy là vào Tháng 5 . Vào tháng 11, có một kẻ ngoại nhập mang theo giá lạnh nhưng vô hình, mà các bác sĩ gọi là Viêm Phổi, rình rập trong “quần cư”, móng vuốt giá băng quệt vào đây đó. Tên giặc đã ngang nhiên hoành hành khu phía đông, hạ gục nhiều nạn nhân, nhưng hắn chỉ mới đặt chân chầm chậm qua các lối ngõ như bàn cờ của mấy “vùng” nhỏ hẹp phủ đầy rêu.

Bạn sẽ không xem Thần Viêm Phổi như một quân tử già đầy hào hiệp. Người con gái nhỏ vốn đã mất máu vì những trận gió ở Califỏnia thì lẽ ra không đáng cho một kẻ bất tài già nua bận tâm đến. Nhưng hắn đã tấn công Johnsy. Thế là cô nằm bẹp, không mấy cử động, trên chiếc giường sắt, xuyên qua khung cửa sổ kiểu Hà Lan nhìn ra bức tường trơ trụi của căn nhà gạch kế bên.

Một buổi sáng, vị bác sĩ đầy bận rộn mời Sue ra hành lang. Ông đang vẩy cái nhiệt kế thăm bệnh để mực thuỷ ngân trong đó hạ xuống.
- Cơ may khởi bệnh của cô ấy áng chừng chỉ một phần mười. Và cơ may này là tuỳ vào việc cô ấy có ý chí muốn sống hay không. Với cách con bệnh chỉ ngóng chờ công ty mai táng đến thì sách thuốc nào cũng vô dụng. Cô bạn nhỏ của cô đã bị ám ảnh là cô ấy sẽ không qua khỏi. Cô ấy có ý định gì không?

- Chị ấy... chị ấy muốn có ngày nào đó vẽ tranh phong cảnh vịnh Naples.
- Vẽ tranh à? Thật là điên rồ! Cô ấy có bận tâm nặng nề về việc gì không, chẳng hạn về một người đàn ông nào đó?

Cô Sue khịt mũi:
- Một người đàn ông à? Một người đàn ông thì có thể... mà không, bác sĩ ạ, không có chuyện như thế.

Vị bác sĩ nói:
- Thế thì là do cô ấy quá yếu rồi. Tôi sẽ cố làm mọi cách mà khoa học cho phép. Nhưng mỗi khi con bệnh của tôi bắt đầu nhẩm tính số lượng xe trong chuyến đưa đám của họ thì xem như hiệu lực của thuốc men chỉ còn một nửa. Nếu cô có cách khiến cho cô ấy hỏi han cô về thời trang mua đông thì tôi có thể đoán chắc cơ may là một phần năm, thay vì là một phần mười.
Sau khi vị bác sĩ đi khỏi, Sue đi vào phòng vẽ và khóc cho đến khi cái khăn giấy Nhật tơi tả thành bột giấy. Rồi cô đường bệ đi vào phòng của Johnsy với cái giá vẽ, miệng huýt sáo một điệu dân ca Mỹ rộn ràng.

Johnsy vẫn nằm bẹp, xem chừng không động đậy chút nào dưới tấm vải giường, mặt hướng về cái cửa sổ. Sue ngưng huýt sáo, nghĩ là bạn mình đang ngủ. Cô sắp xếp giá vẽ và bắt đầu dùng viết và mực để vẽ hình minh hoạ cho một truyện để đăng trong một tạp chí. Trong khi các hoạ sĩ trẻ tuổi phải dọn đường cho Hội Hoạ bằng cách vẽ tranh cho truyện ấy để dọn đường cho Văn Chương. Khi Sue đang phác hoạ cái quần bảnh bao và gọng kinh một tròng của một anh hùng (một tay cao bồi bang Idaho), cô nghe một tiếng nho nhỏ, lặp lại vài lần.

Cô đi vội đến bên mép giường. Johnsy đang mở mắt, nhìn ra cửa sổ, và đang đếm, đếm ngược: “mười hai”, và ít lâu sau: “mười một”, và sau đấy “mười”, rồi “chín”, rồi “tám” và “bảy” gần như liền nhau.

Sue nhìn chăm chú bên ngoài cửa sổ. Có gì ở ngoài đấy đâu mà đếm? Chỉ có một khoảng sân trống buồn nản, và bức tường trơ trụi của một căn nhà gạch xa hơn chừng mười thước. Một dây thường xuân thật già cỗi, gốc vặn vẹo mục nát, leo đến giữa bức tường gạch. Ngọn gió thu lạnh đã làm rơi rụng đám lá, phơi bầy các nhánh gần như trơ trụi bám vào mấy mảng gạch vụn vỡ. Sue hỏi?
- Cái gì vậy hở bồ?

Johnsy nói, gần như thì thầm:
- Sáu. Bây giờ rơi nhanh quá. Ba ngày trước còn gần cả trăm, đếm muốn nhức đầu. Nhưng giờ thì dễ rồi. Thêm chiếc nữa. Giờ chỉ còn lại năm.
- Năm cái gì, noi cho Sue của bồ nghe nào!
- Năm chiếc lá. Trên cây thường Xuân. Khi chiếc lá cuối cùng rụng thì mình cũng sẽ ra đi. Minh đã biết như thế ba ngày nay rồi. Bác sĩ không nói cho bạn biết à. Sue càu nhàu, với giọng khinh miệt cao quý.

- Ô hay! Minh chưa bao giờ nghe có chuyện điên khùng như vậy. Mấy cái lá thường Xuân thì có liên hệ gì đến việc bồ khỏi bệnh đâu nào? Và bồ vẫn thích cái cây này, cô nàng hư đốn ơi! Đừng có ngốc nghếch. Sáng nay ông bác sĩ nới với mình là cơ may của bồ khỏi bệnh hẳn... xem ông ấy nói gì nào... ông ấy nói cơ may chính xác là mười trong một! Đấy cũng bằng với cơ may chúng mình có ơ New York để đáp tầu điện hay đi qua một toà nhà mới. Bây giờ ăn một tí cháo, rồi mua ít tượu vang poóc-tô cho cô bé đang bệnh, và thịt lợn cho chính tác giả ăn.

Johnsy vẫn dán mắt ra ngoài cửa sổ:
- Không cần phải mua rượu vang. Thêm một chiếc nữa. Không, mình không muốn ăn cháo. Thế là còn có bốn. Mình muốn xem chiếc lá cuối cùng trước khi trời tối. Khi ấy mình cũng sẽ ra đi. Sue nghiêng mình trên cô:
- Johnsy ơi, bồ có thể hứa nhắm mắt lại và không nhìn ra ngoài cửa sổ khi mình làm việc được không?

Ngày mai mình phải đi giao mấy bức vẽ. Minh cần ánh sáng, nếu không mình phải kéo rèm xuống.
Johnsy hỏi, giọng lạnh tanh:
- Bạn có thể vẽ trong phòng kia được không?
- Mình muốn ở kề bên bồ. Hơn nữa, mình không muốn bồ cứ nhìn mãi mấy chiếc lá thường Xuân vô duyên đó.
- Cho mình biết khi nào bạn làm xong, vì mình muốn xem chiếc lá cuối cùng rụng xuống. Mình chán chờ đợi rồi. Mình chán suy nghĩ. Mình muốn buông xuôi tất cả, và thả người trôi xuống, xuống nữa, như là một trong mấy chiếc lá mệt mỏi kia. Johnsy nhắm mắt lại, mặt tái nhợt, năm yên như la một cái tượng bị sập đổ.

- Ráng ngủ đi. Mình muốn kêu ông Behrman lên để ngồi mẫu cho mình vẽ một ông thợ mỏ già cô độc. Mình chỉ đi một phút. Đừng cựa quậy cho đến khi mình trở lại.

Ông già Behrman là một hoạ sĩ sống ở tầng trệt bên dưới phòng của họ. Ông đã quá sáu mươi, và có một chòm râu rậm như ông Moses hiện thân trên bức điêu khắc của Michael Angelo. Behrman là cả một sự thất bại trong nghệ thuật. Trong bốn mươi năm ông vung vẩy chiếc cọ mà không hề chạm gần đến vạt áo của Người Tình. Ông luôn luôn muốn vẽ nên một kiệt tác, nhưng chưa bao giờ bắt đầu. Trong vài năm nay ông không vẽ được gì ngoại trừ thỉnh thoảng ít nét quấy quá cho giới thương mại và quảng cáo. Ông kiếm tiền chút đỉnh bằng việc ngồi làm mẫu cho các hoạ sĩ trẻ trong quần cư khi họ không muốn trả theo giá của người mẫu chuyên nghiệp. Ông uống rượu gin lu bù, và vẫn nói đến kiệt tác sắp đến của ông. Còn lại thì Behrnam là một ông già nhỏ thó nhưng dữ tợn, hay chửi như té tát người nào tỏ ra yếu đuối, và xem mình như là con chó giữ nhà để bảo vệ cho hai hoạ sĩ trẻ sống ở tấng trên.
Sue tìm gặp behrman khi ông nồng nặc mùi rượu dâu trong căn phòng nhỏ tối tù mù. Trong một góc là cái giá vẽ với khung vải trống trơn, suốt hai mươi lăm năm vẫn chờ đợi đường nét đầu tiên của một kiệt tác. Cô nói cho ông nghe về chuyện hão huyền của Johnsy, về việc cô nàng - quả thật nhẹ tênh và mỏng manh như một chiếc lá - sẽ trôi đi khi sự bám víu của cô vào trần thế vốn đã yếu sẽ yếu thêm.

Ông già Behrman, với cặp mắt đỏ sòng sọc, lớn tiếng kinh thường và chế diễu cho những điều tưởng tượng ngốc nghếch:
- Khốn khổ! ở đời sao lại có người ngu xuẩn muốn chết vì mấy cái lá rụng từ một dây leo vô duyên như vậy? Tao chưa bao giờ nghe có chuyện này. Không tao sẽ không ngòi làm mẫu cho một đứa ẩn cưa ngu ngốc như mày. Tại sao mày lại để ý tưởng khùng điên đấy đi vào đầu của nó? Ôi dào, cái con nhỏ Johnsy khốn khổ!

- Chị ấy đang yếu lắm, và cơn sốt làm cho đầu óc chị ấy trở nên bệnh hoạn đầy những mơ tưởng kỳ quái. Được rồi, nếu ông không muốn ngồi làm mẫu cho tôi cũng được. Nhưng tôi nghĩ ông là một ông già xấu tính - già vô tích sự. Ông Behrman tru tréo lên:
- Mày đúng là đàn bà! Ai bảo tao không muốn ngồi làm mẫu? Đi lên đi. Tao sẽ đến. Cả nửa giờ đồng hồ rồi tao đã nói là tao sẵn sàng ngồi. Trời ơi! Đây không phải là chỗ cô Johnsy có thể năm bẹp dưỡng bệnh được. Một ngày nào đấy tao sẽ vẽ nên một kiệt tác, và bọn mình sẽ rời đi nơi khác. Trời ơi! Đúng là phải như thế.

Johnst đang ngủ khi họ lên. Sue buông cái rèm cửa xuống, ra dấu bảo Behrman đi vào phòng kia. Trong đấy, xuyên qua khung cửa sổ họ nhìn dây thường Xuân với nỗi lo sợ. Rồi họ nhìn nhau một lúc, không nói lời nào. Một cơn mưa giá lạnh đang ập xuống dai dẳng, pha cùng với tuyết. Trong chiếc áo xanh cũ kỹ, Behrman ngồi làm mẫu, giả làm một thợ mỏ ẩn cư, ngồi trên một cái ấm lật ngược giả làm một tảng đá.

Khi Sue thức giấc vào buổi sáng sau giấc ngủ kéo dài một giờ, cô thấy Johnsy đang vô hòn nhìn cái rèm màu sậm đã buông xuống. Johnsy thì thào:
- Kéo rèm lên. Mình muốn nhìn.Sue mệt mỏi làm theo bạn.
- Nhưng xem kìa! Sau trận mưa vùi dập và những cơn gió xoáy dữ tợn suốt một đêm dài, vẫn còn một chiếc lá thường Xuân dựa trên bức tường gạch. Đấy là chiếc lá cuối cùng. Vẫn còn có mầu xanh thẫm gần cuống, nhưng với phần rìa te tua pha mầu vàng của sự tàn tạ, chiếc lá vẫn dũng cảm bám vào cái cành cao dăm bảy mét cách mặt đất.

Johnsy nói:
- Đấy là chiếc lá cuối cùng. Mình nghĩ chắc chắn nó đã rụng đêm qua. Mình nghe tiếng gió. Nó sẽ rụng hôm nay, và mình sẽ chết cùng lúc với nó.Sue nghiêng khuôn mặt tóp của cô kề cận cái gối:
- Cưng ơi là cưng! Nếu cưng không nghĩ đến chính bản thân cưng thì nên nghĩ đến mình đây. Mình sẽ làm được gì chứ?

Nhưng Johnsy không trả lời. Nỗi cô đơn cùng cực nhất trên thế gian là một linh hồn chuẩn bị tiếp tục cuộc hành trình bí ẩn, xa thẳm. Điều mộng tưởng dường như đã ảm ảnh cô mạnh mẽ hơn khi những dây nối buộc cô với tình bạn và với trần thế đã bị lơi lỏng. Ngày dần trôi, và dù qua khoảng không xám xịt, họ vẫn thấy chiếc lá đơn độc bảm vào cuống của nó, dựa vào bức tường. Và rồi, khi màn đêm buông xuống, gió bắc lại thổi, trong khi mưa vẫn đập vào các cửa sổ, chảy ồng ộc xuống theo rìa mái nhà kiểu Hà Lan.Khi đã có đủ ánh sáng buổi tinh sương, Johnsy, con người vô cảm, lại ra lệnh kéo cái rèm xuống.

Chiếc lá thường Xuân vẫn còn đấy. Johnsy nằm một hồi lâu nhìn nó. Và rồi cô gọi Sue, đang quậy nồi cháo ga trên cái bếp ga. Cô nói:
- Minh là đứa hư, Sue à. Có cái gì đó đã khiến chiếc lá vẫn ở đấy để cho thấy mình quả là độc ác. Muốn chết là một cái tội. Bây giờ bồ có thể mang cho mình chút cháo, và ít sữa pha chút rượu vang póc-tô, và... không, mang trước cho mình cái gương soi cầm tay, rồi chèn ít cái gối quanh mình, rồi mình sẽ ngồi lên để xem bồ nấu nướng. Một giờ sau, cô nói:
- Sue à, một ngày nào đấy mình sẽ vẽ cảnh vịnh Naples.

Ông bác sĩ đến vào buổi xế chiều, và khi ông trở ra Sue có cớ để đi ra ngoài hành lanh. Ông nắm lấy bàn tay gầy, run rẩy của Sue đặt trong tay ông.
- Cơ may ngang bằng. Với công chăm sóc tận tuỵ của cô, cô sẽ thắng. Và giờ tôi phải đến thăm một ca khác ở tầng dưới. Người bệnh là Behrman - tôi nghĩ chừng đâu là một hoạ sĩ. Cũng viêm phổi. Ông ta già cả, yếu đuối, cơn bệnh lại là cấp tính. Không có hi vọng gì, nhưng tôi sẽ đưa ông đến bệnh viện để được thoải mái hơn.

Ngày kế, ông bác sĩ bảo Sue:
- Cô ấy qua khỏi cơn nguy rồi. Cô đã thắng. Bây giờ chỉ cần dinh dưỡng và chăm sóc - chỉ có thế thôi.

Buổi chiều ấy, khi Johsy đang đan một cái khăn quàng len mầu lam thật đậm và xem vẻ rất vô dụng, Sue đến bên giường cô, đặt cánh tay quanh cô và cũng quanh mấy cái gối.
- Mình có chuyện này nói cho bồ biết, cái con chuột trắng ơi. Ông Behrman qua đời hôm nay ở bệnh viện vì chứng viêm phổi. Ông ấy nhuốm bệnh chỉ trong có hai ngày. Người gác đã tìm thấy ông sáng ngày đầu tiên trong căn phòng tầng dưới, bất tỉnh với cái chân đau đớn. Đôi giầy và quần áo ông ấy bị ướt cả, lạnh như nước đá. Họ không thể hiểu nổi ông đã đi đâu trong một đêm kinh hoàng như thế. Và rồi họ tìm thấy cái đèn bão, vẫn cháy, và một cái thang đã bị rời khỏi nơi cất giữ, vài cây cọ tơi tả, và nghiên mầu mới ít mầu xanh và vàng, bồ nhìn ra ngoài cửa sổ xem, nhìn chiếc lá thường Xuân cuối cùng trên bức tường đấy. Bồ có đặt nghi vấn tại sao nó không bao giờ bay lất phất khi có gió thổi không? Cưng ơi, đó là kiệt tác của ông Behrman đấy - ông đã vẽ nó đúng vào đêm chiếc lá cuối cùng rơi rụng.